Nước mắt dường như được “thiết kế” để tạo ra một dạng nhận thức chung giữa con người với nhau. Người đang khóc cảm nhận được nước mắt dâng lên nơi khóe mắt, cảm thấy dòng nước chảy trên má mình, nhìn thế giới mờ đi qua làn nước mắt - trong khi đồng thời biết rằng những người xung quanh cũng đang nhìn thấy những giọt nước mắt ấy từ bên ngoài.
Sự đối lập giữa cười và khóc là điều hiển nhiên: nước mắt biểu đạt nỗi buồn chứ không phải niềm vui. Nỗi buồn ấy đến từ mất mát, thất bại hoặc bị làm nhục, đi kèm cảm giác bất lực và tự thương hại bản thân. Một trong những “trò chơi phối hợp” rõ ràng nhất mà nước mắt giúp giải quyết là thế tiến thoái kiểu Hawk–Dove (Diều hâu – Chim bồ câu). Giống như lá cờ trắng đầu hàng hay hành động ném khăn vào võ đài quyền anh, khóc phát tín hiệu rằng một người đã chấp nhận thất bại và không còn khả năng tiếp tục chiến đấu. Điều này giúp cả hai phía tránh được cái giá của việc tiếp tục xung đột khi kết cục gần như đã rõ ràng.
Arthur Koestler - người có những phân tích sâu sắc về nước mắt không kém gì về tiếng cười - mô tả một ví dụ điển hình trong cuộc xung đột giữa những đứa trẻ:
“Một cậu bé bị một nhóm bắt nạt đánh đập. Trong một lúc, cậu cố chống trả, cố đánh, cào cấu và đá lại, nhưng những kẻ hành hạ giữ chặt cậu, và cuối cùng cậu bắt đầu khóc trong ‘cơn giận bất lực’.
“Nhưng cách diễn đạt ấy dễ gây hiểu lầm. Bất kỳ ai từng quan sát trẻ con đánh nhau đều biết rằng tiếng khóc chỉ bắt đầu khi nạn nhân đã ngừng vùng vẫy và chấp nhận thất bại. Đôi khi những cơn giận mới có thể khiến cuộc vật lộn tiếp diễn, nhưng mỗi lần như vậy, tiếng khóc lại ngưng lại. Khóc không phải biểu hiện của cơn giận (dù đôi lúc hai thứ có thể chồng lấn lên nhau), mà là biểu hiện của sự bất lực sau khi cơn giận đã cạn kiệt và cảm giác bị bỏ rơi xuất hiện - một khát khao được yêu thương, cảm thông và an ủi.”
Theo cách tương tự, trong một cuộc cãi vã giữa các cặp đôi, khi một người bật khóc, người kia thường nhận ra rằng mình đã “đi quá giới hạn” trong việc ép buộc hay công kích đối phương.
Như Koestler nhận xét, khóc không chỉ là tín hiệu đầu hàng mà còn là tín hiệu của sự cần được che chở, được thiết kế để khơi gợi sự giúp đỡ và an ủi từ những người cảm thông. Chức năng này phù hợp với nguồn gốc phát triển của tiếng khóc ở trẻ sơ sinh - nhu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng - cũng như nguồn gốc tiến hóa của nó trong tiếng gọi khi động vật non bị tách khỏi mẹ.
Một bước chuyển quan trọng trong cả hai quá trình này là từ tiếng khóc đòi hỏi ầm ĩ sang những tiếng thút thít đầy nước mắt và yếu ớt. Không ai thực sự biết vì sao tiến hóa lại “huy động” tuyến lệ để biểu đạt trạng thái bất lực ấy. Có lẽ nước mắt ban đầu chỉ là một phản xạ sinh lý nhằm phục hồi độ ẩm cho mắt và khoang mũi sau khi chúng bị khô đi vì nhăn mặt hay thở gấp trong trạng thái kích động.
Nhưng nhiều khả năng hơn là vì con người vừa nhìn thế giới thông qua đôi mắt, vừa đặc biệt chú ý tới đôi mắt của người khác (điều này sẽ được nói kỹ hơn sau). Một màn nước mắt mỏng có lẽ là cách tốt nhất để đồng thời thu hút sự chú ý của cả người biểu lộ cảm xúc lẫn người quan sát.
Ý tưởng cho rằng khóc là một tín hiệu rõ ràng của sự đầu hàng trong xung đột là một lý thuyết khá thỏa đáng cho trường hợp điển hình nhất của nước mắt. Nhưng khi đọc đến đây, hẳn nhiều phản ví dụ đã xuất hiện trong đầu bạn.
Bởi nước mắt không phải lúc nào cũng gắn với đau khổ.
Ngược lại, khóc đôi khi còn mang lại khoái cảm - như khi con người sẵn sàng bỏ tiền để đọc một cuốn tiểu thuyết lấy nước mắt hay xem một bộ phim khiến họ khóc cạn nước mắt. Người ta khóc vì hạnh phúc trong đám cưới. Họ khóc khi đăng quang Hoa hậu Mỹ, hay khi vô địch NBA. Người ta có thể khóc trước cái hùng vĩ siêu việt - như được nhìn thấy cá voi ở cự ly gần - hoặc, như một đồng nghiệp của tôi, khi đọc một luận án tiến sĩ xuất sắc về khoa học thần kinh nhận thức.
Con người cũng khóc khi cảm nhận được tình yêu và lòng trắc ẩn từ người khác. Trong tiếng Anh, những từ gần nghĩa nhất với trạng thái này là touched và moved - “xúc động”.
Đó là tác nhân phổ biến nhất khiến tôi rơi nước mắt, và rất nhiều ký ức có thể khiến mắt tôi nhòe đi: hình ảnh một người lính trở về từ Iraq ôm chặt vợ mình trong sân bay, cả hai không thể buông nhau ra; những lời nâng ly của cha mẹ tôi trong lễ kỷ niệm 60 năm ngày cưới; Ray Charles hát “Georgia on My Mind” trước nghị viện bang Georgia năm 1979, khi bang này chọn phiên bản của ông làm bài hát chính thức - trong khi chính nơi đó từng là biểu tượng của nạn phân biệt chủng tộc và áp bức suốt cuộc đời ông; người dì Sabena của tôi, người đã mất chồng và các con trong Holocaust, đứng dậy vào cuối mỗi bữa tiệc seder và phát biểu ngắn bằng tiếng Yiddish để cảm ơn gia đình đã cho bà một cuộc đời mới ở Canada; một nhà khoa học trẻ trò chuyện với tôi bên ly cà phê tại hội nghị, rồi giữa khoảng lặng bất chợt nhìn xa xăm và khẽ nói: “Tôi nhớ con trai mình”; hay một mẩu truyện tranh “Peanuts”, trong đó Linus kể về chiến thắng bất ngờ ở phút cuối của đội nhà trong một trận bóng đá: “Hàng ngàn người lao xuống sân cười hét vui sướng! Người hâm mộ và các cầu thủ hạnh phúc đến mức lăn lộn trên mặt đất, ôm nhau và nhảy múa!” và Charlie Brown đáp lại: “Thế còn đội thua thì cảm thấy thế nào?”
Vậy chúng ta phải lý giải thế nào về: nước mắt hạnh phúc, nước mắt trước cái đẹp siêu việt, hay nước mắt của lòng trắc ẩn?
Một trong những phản ví dụ trên khá dễ giải thích: những tác phẩm “lấy đi nước mắt”. Con người thích tự đặt mình vào những kích thích gây đau khổ ở mức an toàn và có kiểm soát - có lẽ như một cách điều chỉnh và kiểm nghiệm phản ứng cảm xúc của bản thân. Vì thế họ thích ớt cay, tàu lượn siêu tốc, phim giật gân, phòng xông hơi, phô mai nặng mùi, lướt nước, nhảy bungee, cùng nhiều kiểu nguy hiểm giả lập hoặc ở ranh giới an toàn khác.
Một bi kịch mô phỏng trong sự thoải mái của ghế rạp hát có thể chỉ là một dạng “khổ dâm lành tính” khác.
Nhưng những trường hợp còn lại thì khó lý giải hơn.
Trong đám cưới hay chiến thắng, niềm vui có thể pha lẫn một chút buồn man mác. Có thể hình ảnh cô dâu bước xuống lễ đường khiến cha mẹ nghĩ tới việc “mất” cô con gái mãi mãi. Hoặc đó là dấu chấm hết cho một lịch sử cô đơn và tan vỡ tình cảm.
Những người chiến thắng bật khóc thường nhắc tới những trở ngại họ đã vượt qua để đến được khoảnh khắc vinh quang ấy, hoặc nhớ tới một người cha hay người mẹ đã qua đời - người hẳn sẽ rất tự hào về họ.
Koestler cho rằng một vận may bất ngờ hay cảm giác trước cái siêu việt có thể khơi dậy trạng thái bất lực - cảm giác bị cuốn đi, choáng ngợp, mê đắm, xuất thần - trạng thái có điểm giao với sự bất lực trong mất mát và thất bại, từ đó dẫn tới một kiểu “đầu hàng” cảm xúc tương tự.
Tất cả những lời giải thích ấy đều hợp lý ở mức độ nào đó, nhưng vẫn chưa thực sự thỏa đáng.
Tôi muốn gợi ý một hướng suy nghĩ khác.
Có lẽ không hề tồn tại một lý do đặc biệt nào khiến chúng ta khóc trước niềm vui, lòng trắc ẩn hay cái đẹp siêu việt - cũng giống như việc chúng ta cười trước điều lố bịch bởi phản ứng cảm xúc của con người vốn vận hành theo các cặp đối cực.
Trong kiệt tác ít được nhắc tới của mình, Darwin đã giải thích sự tiến hóa của biểu cảm cảm xúc bằng ba nguyên lý.
Nguyên lý đầu tiên là “những thói quen hữu ích”.
Động vật điều chỉnh nét mặt và cơ thể theo những tư thế có mục đích thực tế, chẳng hạn: nhe răng trước khi cắn, mở to mắt để quan sát nguy hiểm toàn cảnh, hay ép tai xuống để bảo vệ chúng khi chiến đấu.
Sau đó, các chuyển động chuẩn bị này trở thành thói quen và vẫn xuất hiện ở dạng nhẹ hơn ngay cả khi hành động thực sự bị kìm lại.
Vì thế, con người nghiến răng khi tức giận và trợn mắt trong sợ hãi.
Chính nguyên lý thứ hai của Darwin mới thực sự liên quan ở đây: “đối cực” (antithesis).
Khi một con vật rơi vào trạng thái đối lập với trạng thái thường kích hoạt một tư thế nào đó, nó sẽ tạo ra tư thế đối lập về mặt vật lý.
Ví dụ, khi một con chó mang tính thù địch, nó sẽ: gồng cứng cơ thể, kéo môi ra để lộ răng, nâng đầu và vai lên, dựng thẳng và giữ cứng chiếc đuôi, tất cả nhằm chuẩn bị cho việc tấn công.
Ngược lại, khi một con chó cảm thấy thân thiện hay yêu mến, nó không cần chuẩn bị chiến đấu nữa, và nó sẽ mang tư thế đối lập hoàn toàn với tư thế tấn công: cúi thấp người, ngo ngoe uốn éo, thả lỏng tai và môi, ve vẩy chiếc đuôi mềm từ bên này sang bên kia.
Vậy là bí ẩn của hành động vẫy đuôi đã được giải thích.
Tương tự như vậy, một người đàn ông khi tỏ thái độ thách thức sẽ: gồng cổ, ưỡn vai, hạ thấp chân mày, siết chặt nắm tay với các khớp ngón hướng ra ngoài.
Còn khi một người cảm thấy cam chịu hay bất lực thì sao?
Anh ta sẽ: thả lỏng cổ, nhún vai và nâng chân mày, mở hai bàn tay với lòng bàn tay hướng ra ngoài.
Và đó chính là nguồn gốc tiến hóa của cái nhún vai.
Dù Koestler dường như không biết đến công trình của Darwin về biểu cảm cảm xúc (một dấu hiệu cho thấy cuốn sách ấy đã bị lãng quên khá lâu), ông vẫn đưa ra một lập luận rất thuyết phục rằng khóc chính là mặt đối lập của cười.
Hai biểu cảm khuôn mặt này thực sự là hình ảnh đảo ngược của nhau - như lời bài hát nổi tiếng: “Một nụ cười chỉ là một cái cau mày bị lật ngược.”
Khi chúng ta khóc: ta hít vào bằng những nhịp nấc ngắn và sâu, rồi thở ra thành một tiếng thở dài kéo dài. Khi chúng ta cười: ta thở ra bằng những chuỗi “ha-ha-ha” ngắn bật ra, giống như tiếng nấc bị đảo ngược, rồi hít vào thật sâu và dài như một tiếng thở dài đảo ngược.
Khi cười, chúng ta ngửa đầu ra sau. Khi khóc, chúng ta cúi đầu vào lòng bàn tay, xuống mặt bàn hoặc tựa vào vai người khác.
Khi cười: các cơ co lại, cơ thể rung động, ta đập bàn, vỗ đùi. Khi khóc: cơ bắp mềm nhũn, vai trĩu xuống, cơ thể đổ sụp vào ghế.
Ngay cả âm nhạc đi kèm cũng đối lập: diễn viên hài dùng tiếng trống staccato ngắt quãng, còn phim lấy nước mắt dùng những giai điệu violin legato kéo dài.
Giờ hãy đi ngược lại từ những biểu hiện cơ thể đối cực này đến những trạng thái tinh thần đối cực.
Giả sử rằng các tác nhân tinh thần kích hoạt khóc chính là mặt đối lập của những tác nhân kích hoạt tiếng cười. Điều này khá rõ trong sự đối lập giữa: sự công kích, hạ bệ trong hài hước và sự đầu hàng bất lực trong nước mắt.
Nhưng ngay cả những nguyên nhân khóc ít rõ ràng hơn cũng có thể được xem là đối cực của những gì khiến một trò đùa trở nên buồn cười. Hài hước thích thú trước một khiếm khuyết: một tật xấu, một thất bại, một thói đê tiện, một lỗi lầm.
Nước mắt rung động trước phẩm chất tốt đẹp: lòng trắc ẩn, sự dịu dàng, lòng thương xót, tình yêu. Hài hước phản ứng trước bất hạnh bằng sự chế giễu và khoái cảm trước nỗi đau của người khác.
Nước mắt phản ứng trước may mắn bằng sự đồng cảm và niềm vui sẻ chia. Hài hước tìm thấy niềm vui trong: sự thô tục, nhếch nhác như nôn ói, đánh rắm, đại tiểu tiện, ngoại tình, té ngã, bánh kem ụp vào mặt.
Trong khi đó, nước mắt rung động trước: cái cao cả, cái siêu việt, cái hùng vĩ như một bản giao hưởng, một khung cảnh ngoạn mục, những loài động vật khổng lồ, thậm chí cả một luận án xuất sắc.
Vậy cuối cùng cũng có một mẫu số chung phía sau muôn kiểu tình huống khiến con người rơi nước mắt: Chúng là đối cực hoàn toàn với những gì khiến ta bật cười.
Và từ đây, câu hỏi trở thành: Tại sao chúng ta lại có một biểu hiện cơ thể rõ ràng dành cho những điều “không đáng cười” ấy vượt ra ngoài ý nghĩa cốt lõi về đầu hàng và bất lực?
Darwin cho rằng không có lý do đặc biệt nào khiến các biểu cảm phải tồn tại theo cặp đối lập. Một khi sinh vật đã tiến hóa ra một kiểu biểu đạt cảm xúc, thì biểu cảm đối cực đơn giản sẽ xuất hiện như hệ quả cơ học của hệ thần kinh.
Có lẽ không tồn tại lý do đặc biệt nào khiến chúng ta khóc trước: niềm vui, lòng trắc ẩn, hay cái đẹp siêu việt, ngoài việc con người cười trước điều lố bịch, còn phản ứng cảm xúc của chúng ta vốn vận hành theo các cặp đối lập.
Hoặc cũng có thể, chúng ta thực sự cần phát tín hiệu rằng mình nhạy cảm trước: sự dịu dàng, vẻ hùng vĩ, và niềm vui, và cần để người khác biết rằng: chúng ta biết họ biết mình đang xúc động.
Có lẽ điều đó giúp chúng ta trở thành những người đồng hành cộng đồng đáng tin cậy hơn, hoặc giúp những con người cùng cảm xúc tìm thấy nhau trong một “trò chơi xã hội” nào đó mà ta vẫn chưa hiểu hết.
Tôi chưa sẵn sàng khẳng định điều ấy.
Nhưng tôi hy vọng điều đó là sự thật.
Bởi thật an ủi khi nghĩ rằng con người được thiết kế về mặt sinh học để cùng nhau chia sẻ sự rung động trước những điều đẹp đẽ nhất mà cuộc sống có thể mang lại.
- Theo: Steven Pinker