Hậu quả của tình trạng này là một vòng lẩn quẩn tai hại. Sự mất kết nối xã hội làm tâm trí con người méo mó. Khi không có cảm giác được nhìn nhận, người ta có xu hướng từ bỏ kết nối xã hội. Sự ngờ vực bén rễ trong những con người cô đơn và không được nhìn nhận. Họ cảm thấy bị xúc phạm dù không ai có ý xúc phạm họ. Họ sợ hãi chính thứ mà họ cần nhất - sự tiếp xúc thân mật với những người khác. Họ ghét bỏ và nghi ngờ chính mình. Suy cho cùng, thật xấu hổ khi nhận ra mình không đáng được người khác chú ý. Nhiều người trở nên chai sạn trong sự cô đơn. Họ tạo ra những thế giới riêng để tự huyễn hoặc bản thân. Trong quyển “Together, Closer” (tạm dịch: Xích lại gần nhau), nhà khoa học liên ngành Giovanni Frazzetto đã viết: "Sự cô đơn làm lu mờ mọi thứ. Nó trở thành nhìn nhân người khác và nhìn nhân thế giới. Nó khiến chúng một bộ lọc dối lừa mà chúng ta dùng để nhìn nhận bản thân, ta dễ tổn thương hơn khi bị từ chối, nó làm tăng mức độ cảnh giác và cảm giác bất an của chúng ta trong các tình huống xã hội". Chúng ta nhìn nhân bản thân theo cách người khác nhìn nhân chúng ta, và khi chúng ta cảm thấy vô hình, chúng ta có xu hướng sụp đổ.
Gần đây tôi có hỏi một người bạn làm trong ngành xuất bản là hiện nay loại sách nào đang bán chạy. Cô ấy nói đó là sách về quá trình chữa lành, vì có rất nhiều người muốn tìm cách chữa lành. Quyển sách “The Body Keeps the Score” (Sang chấn tâm lý - Hiểu để chữa lành) của nhà tâm thần học Bessel van der Kolk là một trong những quyển sách bán chạy nhất trong thời đại của chúng ta. Quyển sách nói về những tổn thương tâm lý cũng như quá trình hồi phục sau tổn thương, và nó đã bán được hàng triệu bản. Van der Kolk đã viết: “Việc biết rằng chúng ta được những người quan trọng trong cuộc sống của mình nhìn nhận và lắng nghe có thể khiến chúng ta cảm thấy bình tĩnh và an toàn, còn cảm giác bị phớt lờ hoặc xa lánh có thể kích thích chúng ta có phản ứng giận dữ hoặc suy sụp tinh thần".
Nỗi buồn, sự cô đơn và cảm giác không được công nhân biến thành nổi cay đắng. Khi tin rằng không ai nhân ra bán sác cá nhân của mình, chúng ta cảm thấy bất công bởi vì điều đó thật sự bất công. Những người bị đối xử bất công thường nổi gián, tìm cách làm nhục những người mà họ cảm thấy đã làm nhục họ.
Tình trạng cô đơn dẫn đến sự xấu tính. Như người ta hay nói, nỗi đau không được chuyển hóa sẽ lây lan. Không có gì bất ngờ khi đi kèm với những dữ liệu tôi vừa trích dẫn về sự u buồn và thiếu giao tiếp xã hội là những dữ liệu cho thấy sự gia tăng tình trạng thù địch và vô cảm. Vào năm 2021, số vụ tội ác do thù ghét đã tăng lên mức cao nhất trong mười hai năm qua. Vào năm 2000, khoảng hai phần ba người dân Mỹ đã quyên góp cho các hoạt động từ thiện; đến năm 2021, tỷ lệ người quyên góp chỉ còn chưa đến một nửa. Gần đây, một chủ nhà hàng nói với tôi rằng trong thời đại bây giờ, hầu như mỗi tuần đều có một khách hàng nào đó có hành vi thô lỗ, khiến ông phải cấm họ quay lại nhà hàng của mình. Trước đây, điều đó không xảy ra. Tôi có một người bạn làm điều dưỡng, và cô ấy nói vấn đề lớn nhất của cô là giữ chân nhân viên. Những điều dưỡng do cô quản lý thường muốn nghỉ việc vì bệnh nhân ngày càng quá quắt, thậm chí còn sử dụng bạo lực. Tình trạng này giống như những gì nhà báo Peggy Noonan từng nói: “Bây giờ người ta tự hào về sự cay nghiệt của họ".
Sự sụp đổ của các mối quan hệ xã hội được thể hiện rõ nhất qua khủng hoảng lòng tin. Hai thế hệ trước đó, khoảng 60% người Mỹ cho biết “hầu hết mọi người đều đáng tin cậy". Đến năm 2014, theo Khảo sát Xã hội Chung, chỉ có 30,3% còn giữ niềm tin đó, và chỉ có 19% những người thuộc thế hệ millennials nghĩ vậy. Những xã hội có lòng tin có cái mà Francis Fukuyama gọi là “khả năng kết nối tự phát”, nghĩa là những người sống trong xã hội đó dễ dàng tập trung lại và hợp tác cùng nhau. Những xã hội mất lòng tin không có khả năng này, do đó sẽ dễ tan rã.
Nghi ngờ gieo rắc thêm nghi ngờ. Nó tạo cảm giác rằng đa nghi cho rằng ai cũng muốn làm hại họ. Họ nhìn đâu cũng người duy nhất bạn có thể tin tưởng là chính bạn. Những người thấy các mối đe dọa, và họ tin vào các thuyết âm mưu vì chúng giúp họ hợp lý hóa cảm giác bất an trong lòng.
[...]
Tại sao trong hai mươi năm trở lại đây, chúng ta lại chứng kiến sự bùng phát của đại dịch cô đơn và ích kỷ, cùng với sự sụp đổ của các mối liên kết xã hội như vậy? Tất cả chúng ta đều có thể chỉ ra một số yếu tố góp phần gây ra tình trạng này: bất bình đẳng gia tăng mức độ người dân tham gia các hoạt động động đồng giảm, số người đi lễ nhà thờ giảm, chủ nghĩa dân túy và lòng tin mù quáng gia tăng, những luận điệu dắt mũi dư luận từ truyền thông và giới tinh hoa chính trị.
Tôi công nhận rằng tất cả những yếu tố này đều góp phần tạo nên thảm kịch chúng ta đang phải chịu đựng. Nhưng theo thời gian, tôi ngày càng tập trung vào cái mà tôi thấy là nguyên nhân sâu xa hơn gây ra cuộc khủng hoảng xã hội và kết nối của chúng ta. Tôi tin rằng nguyên nhân cơ bản nằm ở vấn đề đạo đức. Xã hội của chúng ta đã thất bại trong việc truyền dạy các kỹ năng giao tiếp và rèn luyện thói quen đối xử với nhau bằng lòng tốt, sự hào phóng và thái độ tôn trọng.
Tôi biết thật cứng nhắc và lỗi thời khi nói chúng ta cần “bồi dưỡng phẩm chất đạo đức”, nhưng việc này thật ra chỉ bao gồm ba điều đơn giản và thiết thực. Đầu tiên, chúng ta cần học cách kiềm chế sự ích kỷ của bản thân và quan tâm đến người khác nhiều hơn. Thứ hai, chúng ta cần xác định mục đích sống của mình, để cuộc sống của chúng ta được ổn định, có định hướng và có ý nghĩa. Thứ ba, chúng ta cần dạy các kỹ năng xã hội và kỹ năng thể hiện cảm xúc cơ bản để mỗi người đều có thể hành xử tử tế và quan tâm đến những người xung quanh.
Trong nhiều thế kỷ qua, trường học đã luôn là tấm gương phản chiếu những khuyết điểm của xã hội chúng ta, trong đó có chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự phân biệt giới tính. Nhưng trong một khoảng thời gian rất dài, dù còn nhiều thiếu sót nhưng trường học vẫn đặc biệt tập trung vào việc bồi dưỡng đạo đức. Vào thời đó, nhiệm vụ chính của trường học là đào tạo ra những con người có phẩm giá, trung thực, lịch thiệp và tôn trọng những người xung quanh. Nhưng sau Thế chiến II, trọng tâm của giáo dục không còn là bồi dưỡng đạo đức nữa. Trong quyển sách lịch sử “Moral Education in America” (tạm dịch: Giáo dục đạo đức tại Mỹ), B. Edward McClellan lập luận rằng hầu hết các trường tiểu học đều bắt đầu từ bỏ việc bồi dưỡng đạo đức vào thập niên 1940 và 1950, và “đến những năm 1960, chương trình giáo dục đạo đức đã hoàn toàn biến mất". Ông nói thêm: “Những nhà giáo dục từng một thời tự hào về khả năng đào tạo ra những con người cao quý giờ đây quan tâm nhiều hơn đến điểm SAT của học sinh, còn các bậc phụ huynh thuộc tầng lớp trung lưu thì chật vật tìm kiếm những ngôi trường có thể mang đến cho con em họ cơ hội tốt nhất để bước chân vào các trường đại học ưu tú".
Khi các trường học ngày càng tập trung vào sự nghiệp sau này của học sinh, họ không còn bận tâm đến việc đào tạo ra những người biết quan tâm đến người khác. Học giả hàng đầu nước Mỹ về giáo dục nhân cách James Davison Hunter từng nói: “Văn hóa Mỹ ngày càng được định nghĩa như một nền văn hóa thiếu vắng các giá trị đạo đức, và trong sự trống rỗng đó, chúng ta không dạy cho trẻ em bất kỳ nền tảng đạo đức nào ngoài việc quan tâm đến bản thân và hạnh phúc của chính chúng". Các tổ chức tôn giáo, vốn từng đảm đương việc giáo dục trẻ em, ngày càng đóng vai trò ít nổi bật hơn trong cuộc sống của người Mỹ. Phương pháp giáo dục của các bậc cha mẹ ngày nay là "chấp nhận". Họ ít khi quan tâm đến việc định hình tư duy đạo đức của con cái, mà chỉ khen ngợi con khi chúng đạt thành tích tốt trong học tập và thể thao.
Theo một nghĩa nào đó, văn hóa Mỹ đã bị suy thoái về mặt đạo đức. Những cuộc nói chuyện về đạo đức và các phạm trù đạo đức ngày càng mất đi tầm quan trọng trong cuộc sống của người Mỹ. Theo thống kê của Ngram Viewer – công cụ của Google dùng để đo lường tần suất xuất hiện của từ ngữ trong những quyển sách đã xuất bản – trong suốt thế kỷ 20, việc sử dụng các từ ngữ có liên quan đến đạo đức đã giảm mạnh, chẳng hạn như từ “dũng cảm” (giảm 66%), “biết ơn" (giảm 49%) hay “khiêm tốn” (giảm 52%). Trong một thời gian dài, các nhà nghiên cứu của UCLA đã khảo sát những sinh viên mới vào đại học về mục tiêu của họ trong cuộc sống. Năm 1966, gần 90% sinh viên cho biết họ cảm thấy một động lực mạnh mẽ muốn phát triển một triết lý sống có ý nghĩa. Đây cũng là mục tiêu phổ biến nhất trong tất cả các mục tiêu sống. Năm 2000, chỉ có 42% sinh viên có suy nghĩ tương tự, thay vào đó, mục tiêu sống quan trọng nhất là có một cuộc sống sung túc. Năm 2015, 82% sinh viên cho biết thành công về mặt tài chính là trọng tâm của việc học. Năm 2018, Trung tâm Nghiên cứu Pew đã hỏi người Mỹ điều gì mang lại cho họ ý nghĩa trong cuộc sống. Chỉ có 7% người được hỏi trả lời là giúp đỡ người khác, và 11% người nói là việc học tập.
Tóm lại, nhiều thế hệ – bao gồm cả thế hệ của tôi – đã không được dạy những kỹ năng mà ai cũng cần để nhìn nhận, thấu hiểu và tôn trọng sự sâu sắc và phẩm giá của người khác. Việc thiếu đi những kỹ năng đạo đức cơ bản đã gây ra sự mất kết nối, xa cách và một nền văn hóa để mặc cho cái ác lộng hành. Sự thất bại của chúng ta trong việc đối xử tốt với người khác trong những cuộc gặp mặt thường ngày đã di căn. Và tôi tin đó là nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng tương tác xã hội đáng báo động mà chúng ta thấy xung quanh mình. Đây là một thất bại trầm trọng của thế giới văn minh. Cuộc khủng hoảng này buộc chúng ta phải cân nhắc lại xem những phương pháp nào là phù hợp để truyền dạy các kỹ năng đạo đức và xã hội. Và cũng chính cuộc khủng hoảng này đã tạo động lực cho tôi viết quyển sách này.
- Trích dẫn từ cuốn sách “Để hiểu một người” của tác giả David Brooks do First News chuyển ngữ và phát hành