Sau đây là ba phương pháp học tập cơ bản. Hãy biến chúng thành thói quen và sắp xếp thời gian để duy trì chúng thường xuyên.
Rèn luyện khả năng khôi phục lại kiến thức mới được tiếp thu từ trong trí nhớ
Ta nên hiểu chiến lược này như thế nào? “Phương pháp luyện tập có tính gợi nhớ” ám chỉ hành vi tự kiểm tra. Bạn nên chú trọng phương pháp hồi tưởng lại kiến thức và kỹ năng như một chiến lược học tập cơ bản thay thế việc đọc lại tài liệu.
Làm thế nào để ứng dụng chiến lược rèn luyện khả năng hồi tưởng trong quá trình học hỏi? Khi bạn đọc một bài khóa hay nghiên cứu những ghi chú về bài giảng, thỉnh thoảng hãy ngừng lại để tự văn mình một số câu hỏi mà không cần nhìn vào sách giáo khoa như: Đâu là những quan điểm chủ đạo? Những thuật ngữ và khái niệm nào là mới mẻ với mình? Làm thế nào để xác định được chúng? Những ý tưởng này có liên hệ gì với những điều mình đã biết?
Nhiều cuốn sách giáo khoa đưa ra những câu hỏi cần nghiên cứu trong phần cuối của các chương, và đó là một phương pháp tốt để khuyến khích hành vi tự kiểm tra kiến thức. Tự đặt câu hỏi cho mình và viết lại đáp án là một cách học tập hữu hiệu.
Vào mỗi tuần trong suốt học kỳ, hãy bỏ ra chút ít thời gian để tự kiểm tra lại kiến thức đã học trong chương trình, cả kiến thức đang học trong tuần lẫn tài liệu đã nghiên cứu trong những tuần trước đó.
Trong quá trình này, hãy kiểm tra lại đáp án của mình để chắc chắn rằng những nhận định của bạn về những gì mình đã biết và chưa biết là chính xác.
Sử dụng những câu hỏi để định vị những phạm vi kiến thức còn yếu kém và tập trung nỗ lực học tập để củng cố chúng.
Bạn càng vất vả nhớ lại những kiến thức mới học thì bạn càng thu được nhiều lợi ích. Những sai sót sẽ không làm bạn lùi bước, miễn là bạn kiểm tra các đáp án của mình và sửa chữa những sai sót.
Trực giác mách bảo bạn điều gì? Hầu hết các sinh viên đều chú trọng việc gạch chân hay đánh dấu ý chính trong sách giáo trình, các ghi chú về bài giảng cũng như các trang trình chiếu. Họ dành nhiều thời gian để đọc lại chúng đến mức nhuần nhuyễn trôi chảy mọi văn bản và thuật ngữ, vì điều đó có vẻ giống như bạn đang tiếp thu kiến thức vậy.
Tại sao phương pháp rèn luyện khả năng hồi tưởng lại mang tới nhiều lợi ích hơn? Sau một đến hai lần xem xét lại bài khóa, phương pháp tự kiểm tra lại kiến thức tỏ ra hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp đọc lại đơn thuần. Tại sao lại có thể như vậy? Nguyên nhân của điều này đã được lý giải cặn kẽ hơn trong chương 2, nhưng ở đây chúng tôi vẫn xin trình bày một số điểm mấu chốt.
Một văn bản sau khi được đọc lại có thể trở nên quen thuộc với bạn, điều đó dễ gây nên ảo tưởng sai lệch về sự hiểu biết, nhưng kỳ thực nó không phải là dấu hiệu tin cậy để đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức. Cảm giác về sự nhuần nhuyễn văn bản mang tới hai điểm bất lợi: nó khiến bạn nhận thức sai lầm về khả năng học tập của bản thân, cũng như tạo ra ấn tượng lệch lạc trong bạn rằng bạn sẽ ghi nhớ được tài liệu.
Ngược lại, hành vi tự kiểm tra lại các khái niệm chính và ý nghĩa ẩn sau các thuật ngữ giúp bạn định hướng sự tập trung vào những quy tắc cốt lõi hơn là những tài liệu thứ yếu hay phong cách diễn đạt của giáo viên. Bạn có thể dựa vào các câu hỏi để xác định những gì mình đã lĩnh hội được cũng như những gì mình vẫn còn chưa hiểu thấu đáo. Hơn nữa, quá trình tự kiểm tra còn ngăn chặn sự quên lãng. Quên là bản chất tự nhiên của con người, song rèn luyện khả năng nhớ lại tri thức mới tiếp thu sẽ giúp bạn duy trì chúng trong trí nhớ và dễ dàng hồi tưởng lại sau này.
Thực hành kiến thức và kỹ năng mới theo một chu kỳ nhất định thông qua các bài kiểm tra giúp bạn củng cố khả năng nắm bắt cũng như liên hệ chúng với những hiểu biết đã có từ trước đó.
Nhờ thói quen ôn tập và gợi nhớ lại kiến thức thường xuyên trong suốt khóa học, bạn sẽ không phải học tập một cách nhồi nhét hay thức thâu đêm. Bạn sẽ hầu như không cần học thêm bất kỳ điều gì trong thời gian diễn ra kỳ thi. Chỉ xem lại tài liệu vào đêm trước ngày thi thì đơn giản hơn nhiều so với nghiên cứu lại chúng.
Bạn cảm thấy thế nào về điều đó? So với đọc lại tài liệu, tự kiểm tra có thể gây cho bạn cảm giác kỳ quặc và chán nản, đặc biệt là khi bạn gặp khó khăn trong việc nhớ lại một số kiến thức mới. Bạn cảm thấy phương pháp này không hữu ích bằng việc đọc lại những ghi chú về bài giảng trên lớp hay những đoạn được đánh dấu trong sách giáo khoa. Nhưng có một sự thật bạn không nhận thức được trong lúc đang cố gắng nhớ lại những tri thức mới, đó là, mỗi khi bạn phải nỗ lực khơi gợi lại một ký ức thì thực sự bạn đang củng cố lại nó, Nếu bạn nghiên cứu lại một vấn đề sau khi nỗ lực hồi tưởng thất bại thì thực sự bạn sẽ tiếp thu nó tốt hơn so với việc chỉ đơn giản từ bỏ mà chưa hề cố gắng. Nếu bạn nỗ lực khôi phục lại kiến thức hay kỹ năng từ trong bộ nhớ, bạn có thể duy trì chúng lâu hơn trong trí nhớ cũng như tăng cường khả năng khôi phục lại chúng trong tương lai.
Tạo khoảng cách giữa các giai đoạn luyện tập
Ta nên hiểu chiến lược này như thế nào? Theo chiến lược này, một vấn đề được nghiên cứu nhiều hơn một lần, nhưng luôn có một khoảng cách thời gian đáng kể giữa các lần ôn tập.
Làm thế nào để áp dụng phương pháp này trong quá trình học hỏi? Lên kế hoạch tự kiểm tra kiến thức, trong đó bạn cần tạo khoảng cách thời gian giữa các giai đoạn học tập. Vậy bao nhiêu thời gian là đủ? Điều đó còn tùy thuộc vào lĩnh vực kiến thức bạn đang nghiên cứu. Nếu bạn đang học thuộc một loạt tên gọi và mặt người, bạn sẽ cần xem lại chúng trong vòng vài phút sau lần học thuộc đầu tiên vì những mối tương quan này không thể tồn tại lâu trong trí nhớ của bạn. Những kiến thức có tính sách vở cần được ôn lại trong vòng khoảng một ngày sau lần tiếp xúc đầu tiên. Sau đó bạn không cần nhìn lại chúng trong khoảng vài ngày hoặc một tuần. Khi bạn cảm thấy chắc chắn rằng mình đã thông thuộc kiến thức ở một mức độ nhất định, hãy tự kiểm tra lại hiểu biết của mình một lần hằng tháng. Kết thúc kỳ học, tương tự như đối với kiến thức mới, hãy nhớ lại những tài liệu đã học trước đó và tự đặt ra cho mình câu hỏi rằng liệu chúng có liên hệ gì với những kiến thức sau đó.
Nếu bạn sử dụng những tấm thẻ học từ mới, nếu bạn mới trả lời đúng vài lần thì đừng ngừng việc kiểm tra lại các từ vựng được ghi trên những tấm thẻ đó. Hãy tiếp tục xáo trộn chúng trong cả bộ thẻ cho đến khi bạn hoàn toàn thuộc chúng. Chỉ sau đó bạn mới có thể đặt riêng chúng vào một nhóm – song bạn sẽ xem xét lại nhóm thẻ này theo một chu kỳ nhất định, có thể là hằng tháng. Mọi thứ bạn cần nhớ đều phải được định kỳ khôi phục lại từ bộ nhớ.
Một cách thức khác để thực hành phương pháp ngắt quãng này là lồng ghép thêm vào đó các đề tài khác, hai hoặc nhiều hơn. Vì sự luân chuyển giữa chúng đòi hỏi bạn phải liên tục làm mới lại nhận thức của mình về từng đề tài.
Trực giác mách bảo bạn điều gì? Trực giác thuyết phục chúng ta dành những khoảng thời gian dài tập trung rèn luyện lặp đi lặp lại một vấn đề chúng ta đang khao khát tìm hiểu. Bấy lâu nay chúng ta vẫn được định hướng để tin rằng chế độ “luyện tập-luyện tập-luyện tập” có tính tập trung cao độ này là không thể thiếu nếu bạn muốn thành thạo một kỹ năng hay tiếp thu một nhận thức mới. Chúng ta bị hấp dẫn đến mức khó có thể nghi ngờ cảm giác này vì hai lý do. Thứ nhất, khi chúng ta ôn tập một vấn đề lặp đi lặp lại, chúng ta thường nhận thấy thành quả thực hiện của mình được cải thiện, nhờ thế mà ảnh hưởng của phương pháp này càng được củng cố vững chắc. Thứ hai, chúng ta không thể thấy được rằng những thành quả gặt hái được trong quá trình ôn tập liên tục cao độ một vấn đề là kết quả của trí nhớ tạm thời và sẽ nhanh chóng mờ nhạt. Sự thất bại về mặt nhận thức đó khiến chúng ta cảm thấy ấn tượng trước tính hiệu quả của chiến lược rèn luyện tập trung.
Hơn nữa, hầu hết những sinh viên đặt niềm tin vào phương pháp học tập sai lầm này đều trì hoãn quá trình xem xét nghiên cứu kiến thức cho đến tận khi các kỳ thi đã gần kề, để rồi sau đó họ tự chôn vùi mình vào núi tài liệu, đọc đi đọc lại trong nỗ lực khắc sâu chúng vào trong trí nhớ.
Tại sao phương pháp ngắt quãng quá trình luyện tập lại hữu ích hơn? Phần lớn mọi người vẫn thường tin tưởng một cách sai lầm rằng chỉ cần lặp đi lặp lại vấn đề một cách đơn thuần là có thể khắc cốt ghi tâm nó. Lặp lại quá trình ôn tập có thể mang lại hiệu quả đó, nhưng chỉ khi quá trình này được ngắt quãng một cách thích hợp.
Nếu bạn sử dụng kỹ thuật tự kiểm tra như một chiến lược học tập cơ bản và tạo khoảng cách giữa các giai đoạn nghiên cứu, cho phép một chút lãng quên có thể xảy ra kể từ lần cuối ôn tập, bạn sẽ phải nỗ lực làm việc hơn nữa để tái thiết lại vốn hiểu biết vừa tích lũy được. Kỳ thực bạn đang “tải lại” nó từ trong trí nhớ dài hạn. Nỗ lực tái thiết lại nhận thức khiến các khái niệm quan trọng trở nên nổi bật và khó quên hơn, cũng như củng cố thêm mối liên hệ giữa chúng với các lĩnh vực khác và những tri thức mới tiếp thu được. Đó là một chiến lược học tập hữu hiệu. (Chương 4 đã thảo luận kỹ lưỡng về nguyên nhân và phương thức hoạt động của chiến lược này.)
Bạn cảm thấy thế nào về điều đó? Khi tập trung ôn luyện duy nhất một vấn đề, bạn có cảm giác nó hiệu quả hơn là ngắt quãng quá trình luyện tập, nhưng kỳ thực không phải vậy. Quá trình luyện tập không liên mạch khiến bạn cảm thấy khó khăn hơn, vì bạn đã hơi quen với sự trì trệ và kiến thức thì trở nên khó nhớ hơn. Dường như bạn chưa thực sự nắm bắt được vấn đề, trong khi sự thực diễn biến theo chiều ngược lại: khi bạn tái cấu trúc lại vốn hiểu biết từ trong trí nhớ dài hạn theo một cách lúng túng đúng như cảm giác nó gây ra cho bạn, thì đó chính là lúc trình độ cũng như trí nhớ của bạn đang được cải thiện.
Đan xen lồng ghép những vấn đề khác nhau vào quá trình học hỏi
Ta nên hiểu chiến lược này như thế nào? Nếu bạn đang cố gắng học thuộc những công thức toán học, hãy học nhiều công thức một lúc, để bạn có thể thay đổi giữa các dạng toán khác nhau, mà mỗi dạng toán lại đòi hỏi một cách giải riêng biệt. Nếu bạn đang nghiên cứu các mẫu vật sinh học, các họa sĩ Hà Lan, hay những nguyên lý kinh tế vĩ mô, hãy xáo trộn các ví dụ.
Làm thế nào để ứng dụng phương pháp lồng ghép nhiều nội dung vào quá trình học tập? Nhiều cuốn sách giáo khoa được cấu trúc với các phần sắp xếp theo trình tự: mỗi phần lại trình bày cách giải cho một dạng toán cụ thể (như tính thể tích hình cầu chẳng hạn) và cung cấp nhiều bài tập ví dụ trước khi chuyển sang một dạng toán khác (tính thể tích hình nón). Thực hành một cách cục bộ, tập trung vào từng phần theo thứ tự cố định như vậy không hiệu quả bằng thực hành một cách đa dạng, vậy đây là những điều bạn nên làm.
Khi bạn xây dựng một phương pháp học tập cho mình, như lúc bạn hiểu được một dạng toán mới và cách giải nó nhưng những hiểu biết đó mới chỉ ở trình độ căn bản thô sơ nhất, hãy phân bố rải rác dạng toán này trong suốt quá trình ôn tập để bạn có thể tự kiểm tra mình bằng các câu hỏi về nhiều dạng toán khác nhau và nhớ lại cách giải phù hợp cho từng dạng.
Nếu bạn tự nhận thấy mình đang rơi vào tình trạng ôn tập nhồi nhét, tập trung, lặp đi lặp lại duy nhất một đề tài hay một kỹ năng cụ thể, hãy thay đổi: xáo trộn quá trình ôn tập bằng những chủ đề, kỹ năng khác, không ngừng thử thách năng lực bản thân trong việc xác định dạng thức vấn đề và lựa chọn giải pháp đúng đắn.
Chúng ta cùng quay trở lại một ví dụ từ trong lĩnh vực thể thao (chương 4). Một cầu thủ bóng chày luyện đập bóng bằng cách vung gậy trước 15 cú ném bóng nhanh, rồi đến 15 cú ném bóng cong và 15 cú ném bóng lừa sẽ có màn thao diễn tốt hơn một cầu thủ luyện tập với các cú ném không theo thứ tự. Nhưng cầu thủ yêu cầu được rèn luyện với những cú ném ngẫu nhiên mới là người trau dồi được khả năng dự đoán và phản ứng lại với mọi củ ném và anh ta sẽ trở thành người đánh bóng xuất sắc hơn.
Trực giác mách bảo bạn điều gì? Hầu hết các học viên đều lần lượt tập trung nghiên cứu nhiều ví dụ về một dạng toán hay một mẫu vật với mong muốn thấu hiểu cặn kẽ từng dạng một và “khắc cốt ghi tâm” nó trước khi chuyển sang nghiên cứu một dạng khác.
Tại sao phương pháp lồng ghép đan xen nhiều nội dung trong quá trình luyện tập lại hữu ích hơn? Xáo trộn nhiều dạng toán và mẫu vật giúp bạn cải thiện khả năng phân biệt các dạng thức, xác định những đặc trưng thống nhất của các đối tượng trong cùng một dạng thức, và nâng cao xác suất thành công của bạn trong những bài thi hay trong những tình huống thực tế mà tại đó bạn phải nhận thức được vấn đề mình đang cố gắng giải quyết thuộc dạng thức nào để có thể áp dụng giải pháp thích hợp.
Bạn cảm thấy thế nào về điều đó? Khi bạn nỗ lực thấu hiểu cặn kẽ về một dạng thức vấn đề trước khi chuyển sang ôn tập một dạng thức khác, bạn đang thực hành theo phương pháp cục bộ tập trung và có vẻ như bạn nắm bắt vấn đề tốt hơn nhờ phương pháp này. Trong khi đó ngắt quãng quá trình ôn tập hình thức này bằng cách thay thế vào đó một hình thức khác có vẻ như dễ gây xao nhãng và kém hiệu quả hơn. Ngay cả khi người học đạt được những hiểu biết sâu sắc nhờ phương pháp luyện tập có tính lồng ghép đan cài, họ vẫn ngoan cố tin rằng thực hành tập trung cục bộ hữu ích hơn cho họ. Có thể bạn cũng đã trải qua cảm giác này, nhưng giờ đây bạn đã có lợi thế hơn khi biết rằng nghiên cứu đã chứng minh cảm giác đó chỉ là ảo tưởng sai lệch.
Trích sách: Bí quyết học đâu nhớ đó