Ý thức và vô thức: Từ Kant đến những thí nghiệm đầu tiên
Ý thức và vô thức: Từ Kant đến những thí nghiệm đầu tiên
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA ý thức và vô thức đã được miêu tả từ thời Hy Lạp. Một trong những bộ óc có sức ảnh hưởng nhất từng nghiên cứu về tâm lý học ý thức chính là triết gia thế kỷ mười tám người Đức Immanuel Kant. 

Ở thời của ông, tâm lý học không phải một bộ môn độc lập mà nó chỉ là một phạm trù chung những điều được các triết gia và các nhà sinh lý học bàn luận khi họ suy xét về tâm trí. Những quy tắc mà họ đưa ra về quá trình tư duy của con người không phải là quy tắc khoa học, mà chỉ là những tuyên bố triết học. 

Vì những nhà tư tưởng này hầu như không cần đến nền tảng kinh nghiệm thực tiễn nên mỗi người đều có thể tùy ý thiên về học thuyết thuần chứ không chỉ ghi nhận các sự kiện khách quan, và tri giác của chúng ta không chỉ dựa trên thực tế bên ngoài mà bằng cách nào đó, nó được tạo nên - và ràng buộc - bởi các đặc điểm chung của tâm trí. 

Quan điểm này gần với quan điểm hiện đại một cách bất ngờ, tuy các học giả ngày nay thường sẽ có quan điểm rộng hơn Kant về các đặc điểm chung của tâm trí, nhất là về những thiên kiến đến từ khao khát, nhu cầu, niềm tin và trải nghiệm quá khứ. Ngày nay, chúng ta tin rằng khi bạn nhìn mẹ vợ hoặc mẹ chồng mình, hình ảnh bạn thấy không chỉ bao gồm các đặc điểm mà bạn nhìn thấy bằng mắt về bà ấy mà còn cả những yếu tố trong đầu bạn nữa, ví dụ như những suy nghĩ của bạn về cách dạy trẻ kỳ quái của bà, hoặc suy nghĩ rằng liệu việc sống ngay sát nhà bà ấy có phải là một ý hay.

Kant cho rằng tâm lý học thực nghiệm không thể trở thành một bộ môn khoa học bởi vì bạn không thể cân đong hay đo lường các sự kiện diễn ra trong não bộ. Tuy nhiên vào thế kỷ 19, các nhà khoa học đã thử cố gắng làm điều đó. Một trong những người đầu tiên là nhà sinh lý học E. H. Weber, người vào năm 1834 đã thực hiện thí nghiệm đơn giản về xúc giác bằng cách đặt một quả cân nhỏ lên bề mặt da của đối tượng thí nghiệm và yêu cầu họ đánh giá xem liệu quả cân thứ hai nặng hơn hay nhẹ hơn quả cân đầu tiên. 

Điều thú vị mà Weber khám phá được chính là khác biệt tối thiểu một người có thể nhận thấy tỷ lệ thuận với kích cỡ của quả cân so sánh. Ví dụ, nếu bạn bạn nhận thấy được quả cân sáu gram nặng hơn một vật so sánh nặng năm gram, vậy thì khác biệt tối thiểu nhận thấy được sẽ là một gram. Nhưng nếu vật so sánh nặng gấp mười lần thì khác biệt tối thiểu nhận thấy được cũng sẽ lớn gấp mười lần, trong trường hợp này là mười gram. Kết quả này nghe không quá ấn tượng, nhưng nó lại là một thông tin quan trọng trong sự phát triển của tâm lý học, bởi vì nó nêu được một điều: thông qua thực nghiệm, ta có thể biết được các quy luật toán học và khoa học trong cách ta xử lý thông tin.

Năm 1879, một nhà tâm lý học người Đức khác là Wilhelm Wundt đã làm đơn xin Bộ Giáo dục Royal Saxon tài trợ tiền thành lập phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới. Tuy đơn bị bác bỏ nhưng phòng thí nghiệm vẫn được ông đứng ra thành lập tại một phòng học nhỏ mà ông vẫn đang sử dụng không chính thức từ năm 1875. Cùng năm đó, bác sĩ y khoa Đại học Harvard - giáo sư William James, người từng giảng môn Giải phẫu học So sánh và Sinh lý học, đã bắt đầu giảng dạy một môn mới gọi là Tương quan giữa Sinh lý học và Tâm lý học. Ông cũng lập một phòng nghiên cứu tâm lý học không chính thức tại hai phòng tầng hầm ở Lawrence Hall. Năm 1891, nó được công nhận chính thức là Phòng nghiên cứu Tâm lý học Harvard. Để vinh danh những nỗ lực mở đường của họ, một tờ báo tại Berlin đã gọi Wundt là “Giáo hoàng Tâm lý học của Cựu Thế giới" và James là “Giáo hoàng Tâm lý học của Tân Thế giới". Chính nhờ những nghiên cứu thử nghiệm của họ và những nghiên cứu khác được Weber truyền cảm hứng mà tâm lý học đã được coi là một ngành khoa học. Lĩnh vực mới ra đời đó được gọi là "Tân Tâm lý học", và nó đã là lĩnh vực khoa học thu hút sự chú ý nhất trong một khoảng thời gian.

Mỗi người tiên phong của Tân Tâm lý học đều có quan điểm riêng về chức năng và tầm quan trọng của vô thức. Nhà sinh lý học và tâm lý học người Anh William Carpenter là một trong những người có tầm nhìn xa nhất. Trong quyển sách “Các Nguyên tắc Sinh lý Tâm thần” (Principles of Mental Physiology) năm 1874 của mình, ông đã viết: "Hai dòng hoạt động tâm thần khác nhau diễn ra đồng thời, một dòng hữu thức, một dòng vô thức", và rằng ta càng nghiên cứu kỹ về cơ chế hoạt động của tâm trí, ta sẽ càng thấy rõ “rằng trong mọi quy trình của nó có sự tham gia đáng kể của không chỉ một hoạt động tự động mà còn có một hoạt động vô thức”. Đó là một hiểu biết sâu sắc, và cho đến nay nhân loại vẫn tiếp tục phát triển trên nền tảng tư tưởng ấy.

Mặc dù sau khi tác phẩm của Carpenter ra đời, nhiều tư tưởng khiêu khích và táo bạo đã nảy sinh trong giới trí thức châu Âu, nhưng bước tiến lớn tiếp theo trong việc tìm hiểu về bộ não - theo tinh thần “hai dòng hoạt động" của Carpenter - lại đến từ bên kia đại dương bởi triết gia và nhà khoa học người Mỹ Charles Sanders Peirce. Ông là người đứng sau những nghiên cứu về khả năng cảm nhận của nào trước những khác biệt tưởng như không thể phát hiện được, chẳng hạn về cân nặng hay độ sáng. Peirce là một người bạn của William James tại Harvard, và ông đã lập nên học thuyết triết học của chủ nghĩa thực dụng (tuy James mới là người mở rộng ý tưởng đó và khiến nó nổi tiếng). Tên gọi "thực dụng" được lấy cảm hứng từ niêm tin rằng các ý tưởng và thuyết triết học nên được coi như công cụ để hiểu và vận hành thế giới, chứ không phải là sự thật tuyệt đối, và giá trị của chúng nên được đánh giá dựa trên các hệ quả thực tế của chúng lên đời sống con người.

Peirce từng là một đứa trẻ thân đông. Ông đã viết ra lịch sử hóa học vào năm mười một tuổi, có phòng thí nghiệm riêng năm mười hai tuổi, và vào năm mười ba tuổi ông đã học logic hình thức từ sách giáo khoa của anh trai mình. Ông có thể viết bằng cả hai tay và rất thích sáng tạo ra các màn ảo thuật với lá bài. Về sau, ông thường xuyên sử dụng thuốc phiện - được kê đơn để giảm cơn đau từ một chứng rối loạn thần kinh. Mặc dù vậy, ông vẫn in và phát hành được tới mười hai ngàn trang tác phẩm với đa dạng chủ đề từ khoa học vật lý tới khoa học xã hội. Khám phá của ông về sự thật rằng tâm trí vô thức nắm giữ nhiều kiến thức mà trí óc ý thức không hề biết - với nguồn gốc lạ lùng từ sự kiện ông có linh tính chính xác về danh tính người ăn trộm cái đồng hồ bằng vàng của mình - chính là tiên đề của rất nhiều thí nghiệm khác giống vậy.

Quy trình dường như ngẫu nhiên đi tới một đáp án chính xác mà ông không hề biết có tồn tại nay được sử dụng trong thí nghiệm "lựa chọn bắt buộc" (forced choice), một loại hình thí nghiệm đã trở thành công cụ tiêu chuẩn để thăm dò tâm trí vô thức. Tuy Freud là người hùng văn hóa được coi là có công đưa khái niệm vô thức trở nên phổ Carpenter, Peirce, Jastrow và William James mà chúng ta biến, nhưng chính nhờ các nhà tiên phong nhu Wundt, mới thăm dò được tới gốc rễ của các phương pháp luận và tư tưởng khoa học hiện đại về tâm trí vô thức. 

- Trích sách: “Ngoài vùng ý thức” của Tiến sĩ Leonard Mlodinow 

 

Tags: