Sau khi nghiên cứu môi trường xung quanh, con người bắt đầu nghiên cứu chính mình. Cho tới thời điểm đó, con người vẫn cho rằng lý tính của mình là hiển nhiên và nhờ nó mà xem xét mọi thứ khác. Giờ đây, chính lý tính của anh ta lại trở thành khách thể nghiên cứu, như thể ta tự móc đôi mắt của mình ra để nhìn ngắm vậy. Và khi được nghiên cứu như thế, lý tính của anh ta hiện lên như một hiện tượng phụ đi kèm theo với các sự kiện điện học hay hóa học trong vỏ não, và vỏ não vốn cũng là sản phẩm phụ của một quá trình tiến hóa không rõ ràng. Bản thân logic của anh ta, thứ mà từ trước tới nay mọi sự kiện trong mọi thế giới khả dĩ đều phải tuân theo, trở nên thuần túy chủ quan. Không có lý do gì để bao biện rằng nó có thể mang lại sự thật.
Chừng nào sự soán ngôi này còn giới hạn trong lý tính lý thuyết thì nó còn chưa thể nào toàn vẹn. Nhà khoa học phải chấp nhận rằng logic của chính mình là đúng (theo phong cách cổ điển kiên cường của Plato hoặc Spinoza), dù là để chứng minh rằng cái logic ấy chỉ thuần túy mang tính chủ quan, và do đó, anh ta chỉ có thể đùa giỡn với chủ nghĩa chủ quan mà thôi. Nhưng quả thật, đôi lúc sự đùa giỡn này cũng đi quá trớn. Tôi nghe nói có những nhà khoa học hiện đại đã bỏ hẳn các từ “chân lý” và “thực tại” ra khỏi vốn từ và khẳng định rằng mục đích công việc của họ không phải là để biết được chuyện gì đang xảy ra, mà chỉ để đạt được những kết quả thực tiễn. Đây chắc chắn là một triệu chứng tỏi tệ. Tuy nhiên, về cơ bản, chủ nghĩa chủ quan lại là một người bạn nối khó quá khó chịu cho việc nghiên cứu, đến mức mối nguy hiểm từ hướng này không ngừng bị triệt tiêu.
Nhưng khi chúng ta chuyển sang lý tính thực hành thì những hệ quả tai hại lại phát huy toàn lực. Khi nói lý tính thực hành, ý tôi muốn nói đến phán đoán của chúng ta về tốt và xấu, thiện và ác. Nếu bạn ngạc nhiên vì tôi xếp điều này vào mục lý tính, hãy để tôi nhắc bạn rằng bản thân sự ngạc nhiên của bạn cũng là một kết quả của chủ nghĩa chủ quan mà tôi đang nhắc đến. Cho tới tận thời hiện đại, chưa có nhà tư tưởng vĩ đại nào hoài nghi tính hợp lý trong những phán đoán giá trị của chúng ta, hay tính khách quan trong những gì chúng ta khám phá được. Tất cả đều mặc nhiên thừa nhận rằng trong cơn cám dỗ, đam mê không đối đầu với cảm tính mà đối đầu với lý tính. Cả Plato, Aristotle, Hooker, Butler và Samuel Johnson đều nghĩ vậy. Nhưng quan điểm hiện đại lại vô cùng khác biệt. Nó không tin rằng các phán đoán giá trị thật sự là phán đoán. Chúng có thể là cảm nghĩ, phức cảm, hoặc thái độ được tạo ra trong một cộng đồng bằng áp lực của môi trường và những truyền thống của nó, do đó sẽ khác nhau giữa các cộng đồng. Khi nói rằng điều gì đó tốt, ta chỉ đang bày tỏ cảm xúc của mình về nó, và cảm xúc của ta về điều đó là cảm xúc được xã hội nhào nặn mà thành.
Nhưng nếu đúng là vậy thì chúng ta cũng có thể được nhào nặn để cảm nhận khác đi. “Có lẽ”, nhà cải cách hay chuyên gia giáo dục nghĩ, "sẽ tốt hơn nếu chúng ta làm vậy. Hãy cải thiện đạo đức của mình". Ý tưởng có vẻ ngây thơ này làm xuất hiện một căn bệnh chắc chắn sẽ khiến giống loài chúng ta diệt vong (và theo tôi, sẽ đày đọa linh hồn chúng ta) nếu nó không bị đè bẹp: sự mê tín tai hại rằng con người có thể tạo ra các giá trị, rằng một cộng đồng có thể tự chọn cho mình “hệ tư tưởng” giống như chọn quần áo để mặc. Ai cũng thấy căm phẫn khi nghe người Đức định nghĩa công lý là những gì có ích và đem lại ích lợi cho Đệ tam Đế chế. Nhưng không phải lúc nào người ta cũng nhớ rằng sự căm phẫn này là hoàn toàn vô căn cứ nếu bản thân chúng ta coi đạo đức như một thứ cảm tính chủ quan có thể thay đổi tùy thích. Nếu không có một tiêu chuẩn khách quan nào đó về “tốt” – áp dụng được cho cả người Đức, người Nhật lẫn chúng ta, dù chúng ta có tuân theo nó hay không – thì tất nhiên người Đức hoàn toàn có quyền tạo ra hệ tư tưởng của riêng họ, giống như chúng ta có quyền tạo ra hệ tư tưởng của mình. Nếu như “tốt” và “tốt hơn” là những thuật ngữ mà ý nghĩa duy nhất của chúng sinh ra từ hệ tư tưởng của riêng mỗi dân tộc, thì tất nhiên bản thân các hệ tư tưởng đó không thể tốt hơn hay tê hơn khi so sánh với nhau. Nếu thước đo không độc lập với những thứ được đo thì chúng ta không thể nào đo lường gì cả.
Cũng vì lý do này mà việc so sánh ý tưởng đạo đức của thời đại này với thời đại khác là điều vô ích, “tiến bộ” và “suy đồi” cũng đều là những từ vô nghĩa như nhau.
Tất cả những điều này đều hiển nhiên đến mức chúng trở thành một mệnh để đồng nhất. Nhưng mức độ ít ỏi mà ngày nay nó được hiểu thì có thể đo lường bằng phương pháp của nhà cải cách đạo đức, người mà sau khi nói rằng "tốt" nghĩa là “những gì chúng ta được nhào nặn để thích” thì lại vui vẻ tiếp tục cân nhắc xem liệu có “tốt hơn" không nếu chúng ta được nhào nặn để thích một thứ khác. Lạy Chúa trên trời, anh ta có ý gì khi nói "tốt hơn” chứ?
Tận sâu trong trí não anh ta luôn ẩn chứa một suy nghĩ rằng nếu vứt hết những phán đoán giá trị truyền thống, anh ta sẽ tìm được một thứ khác, một thứ gì đó “thật” hay “vững chắc” hơn để anh ta có thể dựa vào mà xây dựng nên một hệ thống giá trị mới. Ví dụ, anh ta có thể nói “Chúng ta phải vứt bỏ những cấm kỵ vô lý và xây dựng những giá trị của chúng ta dựa trên lợi ích cho cộng đồng” – như thể lời dạy “Ngươi phải thúc đẩy lợi ích cho cộng đồng" còn là gì khác ngoài một biến thể của câu “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy", mà bản thân câu này cũng không có một cơ sở nào ngoài phán đoán giá trị phổ quát xưa cũ mà anh ta đã tuyên bố từ bỏ. Hoặc anh ta sẽ cố gắng xây dựng các giá trị của mình dựa trên sinh học và cho chúng ta biết nên hành động thế này thế nọ để bảo toàn giống loài. Rõ ràng anh ta không lường trước được câu hỏi: “Tại sao phải bảo toàn giống loài chúng ta?". Anh ta coi điều đó là hiển nhiên, bởi thực chất anh ta đang dựa vào những phán đoán giá trị truyền thống. Nếu thật sự bắt đầu từ con số không, như anh ta giả vờ, thì anh ta sẽ không bao giờ có thể đi tới nguyên tắc đó. Đôi khi anh ta cố gắng làm vậy bằng cách quay ngược về “bản năng". Anh ta có thể tuyên bố: “Chúng ta có bản năng bảo toàn giống loài của mình". Nhưng có đúng là vậy không? Và nếu đúng thì ai bảo chúng ta phải tuân phục những bản năng của mình? Tại sao chúng ta lại phải vâng theo bản năng này trong khi còn nhiều bản năng khác mâu thuẫn với việc bảo toàn giống loài? Nhà cải cách biết rằng một số bản năng cần phải được tuân phục nhiều hơn những bản năng khác chỉ vì anh ta đánh giá chúng dựa trên một tiêu chuẩn cố định, và tiêu chuẩn này cũng lại là thứ đạo đức truyền thống mà anh ta khẳng định là đang thay thế. Rõ ràng tự thân các bản năng không thể cung cấp cho chúng ta cơ sở để xếp loại chúng theo thứ bậc. Khi nghiên cứu các bản năng, nếu bạn không biết gì về mức độ đáng tôn trọng có thể so sánh của chúng thì bạn không bao giờ rút ra được điều đó từ chúng.
- Trích dẫn sách "Triệt tiêu con người" của tác giả C. S. Lewis do First News chuyển ngữ và phát hành