Những lời đơn giản từ Nietzsche có thể thay đổi cách bạn nghĩ về quá khứ  
Những lời đơn giản từ Nietzsche có thể thay đổi cách bạn nghĩ về quá khứ  
Nếu ngay lúc này, bạn được nói rằng mình sẽ phải sống lại cuộc đời này chính xác như nó đã diễn ra và sẽ diễn ra với tất cả những thăng trầm, may mắn và bi kịch, niềm vui và nỗi đau lặp đi lặp lại mãi mãi, bạn sẽ nghĩ gì?

Bạn sẽ kinh hãi chứ?

Bạn sẽ muốn thay đổi nó chứ?

Hay bạn sẽ hài lòng với nó?

Bạn có thể làm gì hoặc nghĩ gì để điều đó trở nên chấp nhận được, thậm chí đáng mong muốn?

Nhà triết học thế kỷ XIX Friedrich Nietzsche đã thực hiện một thí nghiệm tư duy, được gọi là “sự tái diễn vĩnh cửu” (eternal recurrence), một phần để xem xét và khám phá một trong những nguyên lý triết học quan trọng của ông mang tên amor fati.

Cụm từ amor fati trong tiếng Latin có nghĩa là “yêu số phận của mình.”

Khái niệm này được cho là lần đầu tiên được đề cập và thảo luận trong các tác phẩm của những nhà triết học Khắc kỷ như Epictetus và Marcus Aurelius.

Tuy nhiên, Nietzsche là người đầu tiên sử dụng và tập trung một cách rõ ràng vào cụm từ này, định hình và tích hợp nó như một giá trị độc đáo và quan trọng trong hệ thống triết học của mình.

Ông bàn luận sâu sắc nhất về ý tưởng này trong các tác phẩm “The Gay Science”, “Ecce Homo”, cùng nhiều ghi chép, thư từ và trước tác khác.

Vào thời điểm đó, Nietzsche chọn ở ẩn tại dãy Alps của Thụy Sĩ và trải qua một giai đoạn được gọi là thời kỳ tự phản tỉnh sâu sắc về một cuộc đời đầy rẫy gian truân và thất bại.

Ông đã rời xa gia đình và sự nghiệp học thuật để tìm kiếm sự độc lập và theo đuổi con đường viết lách tự do.

Nhưng ông không thể thoát khỏi những dư âm tiêu cực từ gia đình mình, cũng không thể tìm thấy thành công trong công việc viết lách.

Ông mất đi những tình bạn, những mối tình, và rồi dần dần cả sự minh mẫn của chính mình.

Sức khỏe của ông ngày càng suy kiệt do nhiều căn bệnh khác nhau, khiến ông thường xuyên phải nằm liệt giường trong đau đớn.

Công việc là gần như là tất cả những gì còn lại của ông. Và nó vẫn không đủ, ít nhất là vào thời điểm đó.

Sách của ông bán rất kém, còn triết học của ông hầu như không được ai chú ý.

Cuộc đời ông liên tiếp bị bủa vây bởi thất bại nối tiếp thất bại, khổ đau nối tiếp khổ đau, cho đến khi ông qua đời trong những điều kiện tương đối bi thảm.

Dĩ nhiên, ngày nay chúng ta đều biết rằng sau khi Nietzsche qua đời, thành công của ông được biết đến trên toàn cầu, được xem là một trong những bộ óc triết học vĩ đại nhất từng tồn tại.

Vậy tại sao một trí tuệ triết học xuất chúng như thế lại đối diện với một cuộc đời đầy thất bại và đau khổ như vậy?

Ông cố gắng triết lý hóa nó.

Ông cố gắng rút ra sự khôn ngoan và thấu hiểu từ nó.

Ông xây dựng và tích hợp vào tư tưởng của mình quan niệm về amor fati.

Đối với Nietzsche, khi nói về amor fati, có thể hiểu rộng hơn rằng ông đang nói về việc yêu cuộc đời của chính mình.

Từ “yêu” ở đây là một sắc thái vô cùng quan trọng.

Nó gợi ý điều gì đó vượt xa sự chấp nhận kiểu Khắc kỷ, mà là một sự say mê gần như nhiệt thành và trọn vẹn.

Đó là một thái độ, hay đúng hơn là một lời tuyên bố chống lại xu hướng hối tiếc.

Chống lại niềm tin rằng lẽ ra ta có thể kiểm soát kết quả cuộc sống tốt hơn.

Rằng lẽ ra ta nên hành động khác đi hay ta nên biết nhiều hơn.

Hoặc rằng một cuộc đời không có những điều tiêu cực nhất định sẽ mang lại nhiều điều tích cực hơn.

Thay vào đó, Nietzsche kêu gọi chúng ta yêu và đón nhận cuộc sống đúng như nó vốn là, với tất cả điều tốt lẫn điều xấu, thành công lẫn thất bại, thỏa mãn lẫn đau đớn.

Nietzsche viết:

“Công thức của tôi cho sự vĩ đại của con người là amor fati: không mong muốn bất cứ điều gì trở nên khác đi, không phải trong tương lai, không phải trong quá khứ, không phải cho toàn bộ cõi vĩnh hằng. Không chỉ chịu đựng điều tất yếu, mà là yêu nó."

Một cách tự nhiên và dễ hiểu, chúng ta thường làm điều ngược lại.

Bị mê hoặc bởi ảo ảnh của sự nhìn lại và những mong ước viển vông.

Ta cảm thấy như thể mình đã có thể lựa chọn khác. Mọi thứ đã có thể khác đi. Có thể tốt đẹp hơn. Ta hối tiếc và khao khát một thực tại khác.

Xét về mặt lý thuyết, điều đó có thể đúng.

Trong quá khứ đã tồn tại những khả năng lựa chọn khác nhau.

Tương lai cũng có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau.

Nhưng trong thực tại này - thực tại duy nhất mà chúng ta phải sống - không hề có lựa chọn nào khác mà ta đã có thể đưa ra.

Và cũng không có cách nào khác để mọi thứ diễn ra.

Mỗi quyết định bạn từng đưa ra đều là quyết định tốt nhất và duy nhất mà bạn có thể đưa ra vào thời điểm đó, với lượng thông tin bạn có và trạng thái tinh thần của bạn lúc ấy.

Và mọi hoàn cảnh trong cuộc sống, dù là hệ quả từ những quyết định đó hay đơn giản là những điều vốn thuộc về cuộc sống, đều nằm ngoài sự kiểm soát của bạn.

Bạn không thể thay đổi chúng.

Hối tiếc hoặc mong muốn quay ngược thời gian để chỉnh sửa quá khứ ngầm giả định rằng những điều ta muốn thay đổi, những điều ta cho là tiêu cực, thực sự tiêu cực trong bức tranh lớn hơn.

Hoặc rằng chúng hoàn toàn có thể tránh được.

Điều đó giả định rằng ta biết điều gì là tốt nhất một cách tuyệt đối.

Biết chính xác mọi thứ sẽ diễn ra thế nào nếu quá khứ khác đi.

Và rằng nếu điều đó xảy ra, ta sẽ không còn rơi vào trạng thái hối tiếc hay chán ghét bản thân như hiện tại.

Vấn đề không hẳn là cuộc đời có thể đã khác đi.

Mà là chúng ta khước từ việc tìm thấy vẻ đẹp trong cách nó tất yếu đã diễn ra.

Oán giận hay chống lại những gì đã xảy ra với bạn hoặc vì bạn chỉ tạo thêm đau khổ cho hiện tại.

Nó làm trầm trọng thêm những gì đáng để oán giận và chống đối.

Giống như đổ xăng làm từ sự hối tiếc vào ngọn lửa của những hoàn cảnh không thể thay đổi, chúng ta chỉ khiến ngọn lửa ấy cháy dữ dội hơn một cách không cần thiết.

Theo Nietzsche, thử thách thực sự của cuộc sống là học cách yêu những gì bạn đang trải nghiệm ngay lúc này, đúng như nó đang là, với tất cả những gì nó là.

Ông viết: “Tôi muốn học ngày càng nhiều hơn để nhìn thấy cái đẹp trong những gì là tất yếu; rồi tôi sẽ trở thành một trong những người làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ. Amor fati: từ nay hãy để đó là tình yêu của tôi. Tôi không muốn gây chiến với cái xấu xí. Tôi không muốn buộc tội; thậm chí tôi không muốn buộc tội cả những người đang buộc tội. Quay mặt đi sẽ là sự phủ định duy nhất của tôi. Và trên tất cả, vào một ngày nào đó, tôi chỉ mong được trở thành một người nói ‘Có’.”

Việc vượt qua hối tiếc, căm ghét và sự kháng cự - câu hỏi mà Nietzsche đặt ra trong ý niệm “sự tái diễn vĩnh cửu”, rằng liệu bạn có muốn sống lại cuộc đời mình hay không, liệu bạn có yêu hoặc có thể yêu cuộc đời mình hay không - hoàn toàn không phải điều hiển nhiên hay dễ dàng.

Trong đoạn trích vừa rồi, cần lưu ý rằng nó kết thúc bằng những từ: “Vào một ngày nào đó, tôi mong được trở thành...”

Có thể Nietzsche gọi đó là nhiệm vụ của đời người chính vì ông hiểu nó khó khăn đến mức nào.

Và có lẽ phần lớn mọi người sẽ không thể dễ dàng nói “Có” với cuộc sống.

Có thể amor fati là một lý tưởng để hướng tới, hơn là một trạng thái có thể đạt được hoàn toàn. Sau cùng, để trải nghiệm những khoảnh khắc cô đơn, thất bại và thảm họa, mất mát và cái chết, cùng mọi thứ khác vốn thấm đẫm sự tồn tại, rồi vẫn nói: “Vâng, tôi yêu tất cả những điều đó.”

Đó có lẽ là điều bất khả thi nếu xét từng biến cố riêng lẻ.

Nhưng có lẽ trong những khoảnh khắc tinh thần đủ mạnh mẽ, khi đã có khoảng cách nhất định với bất hạnh, chúng ta có thể dành một tình yêu lớn cho toàn bộ cuộc đời.

Và đối với Nietzsche, đạt được điều đó là sự khẳng định lớn lao nhất dành cho cuộc sống.

Từ đó, ta có thể xây dựng một lăng kính giúp mình nhìn thấy vẻ đẹp trong mọi thứ và thường xuyên hơn đi đến lời khẳng định vang dội ấy: “Có.”

Sau cùng, câu hỏi có lẽ không phải là bạn yêu cuộc đời mình đến mức nào ngay lúc này, mà là bạn có thể yêu nó đến mức nào và bằng cách nào.

Và đôi khi, cách duy nhất để trải nghiệm vẻ đẹp của sự vật là học cách nghĩ về chúng theo một cách đẹp đẽ hơn.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Nietzsche đã viết rất nhiều về giá trị của việc vượt lên chính mình, thành tựu, sức sống và quyền năng, về việc không ngừng xác định và theo đuổi những mục tiêu mới theo hình ảnh của bản ngã lý tưởng mà ta mong muốn trở thành.

Thế nhưng, thoạt nhìn, trọng tâm của amor fati dường như lại mang sắc thái nhẹ nhàng và thụ động hơn, thậm chí có vẻ mâu thuẫn với những tư tưởng ấy.

Tuy nhiên, amor fati không hề phủ nhận việc cố gắng vươn lên và đạt được thành tựu.

Không phủ nhận việc chống chọi với dòng chảy của cuộc đời để đạt được điều gì đó hoặc kiểm soát hướng đi của nó. 

Ngược lại, số phận của một người bao gồm cả những nỗ lực ấy. Nó bao gồm việc cố gắng vượt qua những điều kiện của cuộc sống. Và cả việc thất bại trong một ý nghĩa tối hậu nào đó.

Có thể nói rằng chính ý tưởng amor fati là một sự vượt lên của Nietzsche. Và cũng có thể là của bất kỳ ai tiếp nhận nó. Một sự vượt lên khỏi chính kết luận cuối cùng của việc luôn phải vượt lên.

Vượt lên khỏi hình mẫu bản thân lý tưởng và cuộc sống lý tưởng vốn không thể đạt tới.

Amor fati là thái độ sẵn sàng cuối cùng chấp nhận cách mọi thứ đã diễn ra và sẽ diễn ra. Là yêu một cuộc đời mà trong gần như mọi khoảnh khắc đều cố khiến bạn ghét bỏ nó.

Và vẫn nhìn thẳng vào nó rồi nói: “Vâng, tôi yêu nó.”

Điều gì đáng sợ hơn một đối thủ vẫn mỉm cười khi đang bị đánh bại?

Và có lẽ chính vì thế mà Nietzsche vẫn được xem là một trong những nhà triết học nổi bật và giàu sức sống nhất mọi thời đại.

- Theo: Pursuit of Wonder

 

Tags: