Hiểu 5 nguyên nhân khiến trí nhớ của bạn có thể bị bóp méo để ghi nhớ hiệu quả hơn
Hiểu 5 nguyên nhân khiến trí nhớ của bạn có thể bị bóp méo để ghi nhớ hiệu quả hơn
Trí nhớ có đôi nét tương đồng với thuật tìm kiếm của Google đó là bạn càng tạo ra được nhiều mối tương quan giữa những gì đang học với những gì đã biết, cũng như liên hệ càng nhiều với một ký ức nào đó (ví dụ như một hình ảnh, một địa điểm hay một câu chuyện với bối cảnh rộng hơn), thì bạn càng có nhiều manh mối tư duy mà thông qua chúng bạn có thể tìm kiếm hay tái hiện lại ký ức đó trong tương lai. 
Bí quyết học đâu nhớ đó
(23 lượt)

Năng lực này phát triển sức mạnh tư duy của chúng ta: khả năng hành động và trở thành một cá nhân hữu dụng trong cuộc sống. Đồng thời, nhờ khả năng điều chỉnh tâm trạng, điều hòa những nhu cầu về cảm xúc, ám thị và thuyết minh sự bất đồng mà trí nhớ có thể giúp chúng ta luôn ở trạng thái sẵn sàng tiếp thu cái mới, khi những điều ta vẫn cho là chắc chắn lại có thể là một sai lầm: ngay cả những ký ức được lưu giữ cẩn thận nhất vẫn có khả năng không biểu hiện chính xác sự kiện như nó từng xảy ra.

Trí nhớ có thể bị bóp méo theo rất nhiều cách. Con người cắt nghĩa hiện tượng dựa trên những hiểu biết của họ về thế giới, theo một trình tự mới chưa từng được áp dụng để thể hiện bất kỳ một câu chuyện nào trước đó nhằm gia tăng tính hợp lý. 

Trí nhớ là sự tái thiết. Chúng ta không thể nhớ mọi thứ một cách chính xác tuyệt đối, vì thế chúng ta chỉ lưu lại những yếu tố có tác động sâu sắc nhất về mặt xúc cảm với bản thân và lấp đầy những khoảng trống còn lại bằng những gì chúng ta tự sáng tạo, những chi tiết thống nhất với câu chuyện của chính mình song lại hoàn toàn có khả năng mắc sai lầm.

Những điều mà con người ghi nhớ chỉ được ám thị chứ không hề được biểu hiện một cách cụ thể. Các tác phẩm văn chương có thể cung cấp cho chúng ta rất nhiều ví dụ. 

Trong một trường hợp, nhiều người đọc đoạn văn miêu tả về một cô gái có tên Helen Keller đang trong tâm trạng bồn chồn và sau đó nhầm tưởng rằng các từ ngữ “điếc, câm và mù” đã xuất hiện trong văn bản. Sự nhầm lẫn này gần như không hề xảy ra với những người đọc đoạn văn có nội dung tương tự về một cô gái có tên Carol Harris.

 

SỰ HƯ CẤU CÓ TÍNH SUY DIỄN

 

Đây là xu hướng xuất hiện ở một số người, mà theo đó họ bị yêu cầu tưởng tượng ra một sự kiện sống động, rồi sau đó bị hỏi lại về điều đó, đôi khi họ sẽ bắt đầu tin rằng sự kiện này đã thực sự xảy ra.

Nếu bạn yêu cầu mọi người cung cấp một bản tường trình về cuộc đời họ trong quá khứ thì một người trưởng thành từng bị hỏi “Anh đã bao giờ dùng tay làm vỡ cửa sổ chưa?” sẽ dễ tin rằng mình đã từng thực hiện hành vi đó hơn. 

Dường như câu hỏi được đưa ra đã khơi gợi trí tưởng tượng của họ về sự việc, và sau đó hành vi hư cấu đó phát huy tác dụng trong việc khiến họ có xu hướng nghĩ rằng sự việc này là có thực nhiều hơn (so với một nhóm trả lời chưa từng thực hiện hành vi tưởng tượng trước đó).

Những sự kiện giả định được hư cấu một cách sống động có thể tạo lập một vị trí vững chắc trong trí óc của bạn không thua kém gì ký ức về những sự kiện có thực. 

Giả dụ, người ta nghi rằng một đứa trẻ đang bị lạm dụng tình dục và phỏng vấn em về điều đó, rất có thể em sẽ tự tưởng tượng ra những trải nghiệm như những gì người phỏng vấn đang mô tả, và sau đó bắt đầu “nhớ lại” chúng như những gì đã thực sự xảy ra. (Tất nhiên, đáng buồn là rất nhiều ký ức của trẻ em từng bị lạm dụng tình dục hoàn toàn chính xác, khi nạn nhân tường thuật lại vụ việc ngay sau khi nó xảy ra.)

Một dạng ảo giác đánh lừa trí nhớ khác được gây ra bởi sự ám thị. Sự ám thị này nảy sinh một cách đơn giản theo cách một câu hỏi được đưa ra. 

Trong một ví dụ, mọi người cùng xem một đoạn băng về một chiếc xe băng qua vạch dừng tại một điểm giao cắt và đâm vào một chiếc xe khác đang chạy qua. Những người sau đó được yêu cầu ước đoán tốc độ của những chiếc xe khi chúng "tiếp xúc" với nhau cho kết quả trung bình là khoảng 51km/h. Một số khác cũng được yêu cầu nhận định vận tốc phương tiện nhưng là lúc chúng “đâm” vào nhau lai cho kết quả trung bình là 66km/h. 

Trong trường hợp vận tốc giới hạn là 48km/h, câu hỏi thứ hai được đưa ra, thay vì câu hỏi thứ nhất, có khả năng sẽ khiến người tài xế phải đối mặt với án phạt vi phạm tốc độ. Tất nhiên, hệ thống pháp luật hiểu rõ nguy cơ của việc nhân chứng bị hỏi những “câu hỏi có tính chất mớm cung” (khuyến khích nhân chứng hướng tới một đáp án cụ thể), nhưng rất khó để hạn chế hoàn toàn những câu hỏi như thế, vì sự ám thị hay gợi ý là vô cùng khó nắm bắt. Mà rốt cuộc, trong trường hợp vừa được bàn tới, hai chiếc xe đã thực sự “đâm vào nhau”.

Trong nỗ lực cố gắng hồi tưởng lại tội ác đã xảy ra, một số nhân chứng được hướng dẫn thư giãn đầu óc, nói ra mọi điều vừa nghĩ ra, ngay cả khi đó chỉ là một phỏng đoán. 

Tuy nhiên, hành vi phỏng đoán về những sự việc có thể đã xảy ra lại khiến họ cung cấp những thông tin sai lệch do chính họ hư cấu ra, những chi tiết mà nếu không được hiệu chỉnh sẽ được tái hiện sau đó như ký ức có thực. 

Đó là lý do vì sao những người được phỏng vấn sau khi bị thôi miên không được phép làm chứng trước tòa tại hầu hết các bang và thành phố ở Canada. Những cuộc thôi miên thường khuyến khích mọi người giải phóng các suy nghĩ, nói ra mọi điều nảy ra trong đầu óc, với hy vọng rằng các đối tượng sẽ hồi tưởng lại những thông tin chưa hề được sáng tạo theo một cách nào khác. Tuy nhiên, quá trình này lại khiến họ cung cấp nhiều thông tin sai lệch. 

Thêm vào đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trong quá trình sát hạch sau đó, đối tượng được hướng dẫn chỉ nói ra chính xác những gì họ nhớ là đã thực sự xảy ra thì những phỏng đoán nảy sinh trong quá trình thôi miên lại che mờ những ký ức về sự kiện có thực của họ. Cụ thể, họ nhớ tới những sự việc họ sáng tạo ra trong lúc bị thôi miên như thể chúng là những trải nghiệm trong thực tế, ngay cả trong những hoàn cảnh mà mọi người đều biết rằng các sự kiện được đề cập đến không hề xảy ra (như trong phòng thí nghiệm).

 

SỰ ĐAN XEN

Sự đan xen của những sự kiện khác cũng có thể làm sai lệch trí nhớ. 

Chẳng hạn, một cảnh sát thẩm vấn một nhân chứng ngay sau một vụ án bằng cách đưa ra những tấm ảnh của các nghi phạm. Sau một thời gian, cuối cùng cảnh sát cũng tóm được kẻ tình nghi trong bức ảnh mà nhân chứng đã xác nhận. Nếu lúc này yêu cầu nhân chứng đó xem xét một danh sách, có thể anh ta sẽ lại xác định rằng nghi phạm trong bức ảnh mà anh ta vừa được xem đã thực sự hiện diện trong vụ án. 

Nhà tâm lý học Donald M. Thomson đã rơi vào một tình huống minh họa đặc biệt sống động cho quá trình này. Vào giữa ban ngày, ở Sydney, một phụ nữ đang xem tivi thì nghe thấy một tiếng gõ cửa. Khi ra mở cửa, cô liền bị tấn công, cưỡng bức và bị bỏ lại trong tình trạng bất tỉnh. Khi cô tỉnh lại và gọi cảnh sát, họ đã tới giúp đỡ, yêu cầu cô miêu tả lại kẻ tấn công và mở một cuộc tìm kiếm. Họ nhận thấy Donald Thomson khi ông đang đi trên một con phố ở Sydney và ngoại hình của ông khớp với những mô tả nhận dạng tên tội phạm. Họ bắt giữ ông ngay lập tức. Hóa ra Thomson lại có một chứng cứ ngoại phạm rõ ràng, thời gian ông đang tham dự một cuộc phỏng vấn được truyền hình trực tiếp trùng khít với thời điểm xảy ra vụ cưỡng bức. Phía cảnh sát không tin ông và chế nhạo ông trong lúc thẩm vấn. Tuy nhiên, câu chuyện của ông là có thật. Người phụ nữ đã xem chương trình đó khi cô nghe thấy tiếng gõ cửa. Bản miêu tả cô cung cấp cho cảnh sát rõ ràng là về người đàn ông cô đã nhìn thấy trên tivi, chính là Donald Thomson, chứ không phải kẻ cưỡng bức. Có thể trạng thái tâm lý bất ổn đã khiến phản ứng theo Hệ thống 1 của cô – một hệ thống tức thì nhưng đôi khi nhầm lẫn – mang đến một hình dung sai lệch.

 

THIÊN LỆCH NHẬN THỨC

 

Chúng ta thường có xu hướng đánh giá không chính xác khoảng thời gian người khác cần để tiếp thu một kiến thức mới hay thực hiện một nhiệm vụ mà mình đã thuần thục. Đó là hiện tượng mà các nhà tâm lý học vẫn gọi là tai họa đến từ những thiên lệch nhận thức (curse of knowledge). 

Các giáo viên thường phải gánh chịu hậu quả của những lầm tưởng này – một chuyên gia về toán học cảm thấy các thuật toán quá dễ dàng đến mức cô quên mất không đặt mình vào địa vị của những sinh viên chỉ vừa mới bắt đầu và còn đang chật vật với những công thức. 

Một dạng của tai họa từ những thiên lệch nhận thức là dự đoán dựa trên kết quả đã xảy ra (hindsight bias), hay còn được biết đến thường xuyên hơn như hiệu ứng tôi-đã-biết-từ-lâu rồi (I-knew-it-all-along effect), theo đó chúng ta thấy rằng những sự kiện đã xảy ra có thể được dự đoán với xác suất cao hơn là xác suất thực tế chúng đã xảy ra trong quá khứ. Cho dù chẳng thể dự đoán được sự biến chuyển của thị trường chứng khoán ngay từ buổi sáng thì các chuyên gia vẫn sẽ tự tin lý giải trên những bản tin buổi tối về những biến động của thị trường chứng khoán như thể họ đã chứng kiến điều đó xảy ra vào một ngày trước đó vậy.

Những bài tường thuật nghe có vẻ quen thuộc cũng có thể khiến người nghe có cảm giác đã biết về nó và dễ dàng nhầm lẫn nó với sự thật. Đó là nguyên nhân tại sao các bài diễn thuyết chính trị hay quảng cáo không hề có thật nhưng việc lặp đi lặp lại chúng có thể lôi kéo sự chú ý của công chúng, đặc biệt là khi chúng có sự cộng hưởng với cảm xúc của họ. 

Bạn nghe qua một vấn đề gì đó một lần, lần nhắc lại về sau sẽ mang lại cho bạn hơi ấm của sự quen thuộc, khiến bạn nhầm lẫn nó với ký ức, một phần của điều gì đó bạn đã biết. Tuy không thể định vị chính xác nhưng hướng tin vào nó. Trong giới truyền thông, kỹ xảo này được đặt dưới cái tên "luận điệu to tát" (lộng giả thành chân) - ngay cả một lời nói dối rõ ràng là không tưởng cũng có thể được chấp nhận như một sự thật nếu được lặp lại nhiều lần.

 

ẢO TƯỞNG GÂY NÊN BỞI SỰ THUẦN THỤC

 

Hiện tượng này xuất hiện khi chúng ta có xu hướng nhầm lẫn sự trôi chảy của mình khi đọc một văn bản với sự nắm bắt thấu đáo nội dung bên trong nó. 

Ví dụ, khi bạn đọc một bài thuyết trình cực kỳ minh bạch, dễ hiểu về một khái niệm phức tạp, có thể bạn sẽ nghĩ rằng khái niệm này tương đối đơn giản và thậm chí có thể bạn còn biết nó từ lâu rồi. 

Nnhững sinh viên ôn tập bằng cách đọc lại các bài khóa có thể nhầm tưởng rằng mình đã tiếp cận và sở hữu nguồn tri thức ẩn chứa trong đề tài đó và đánh giá quá cao những gì mình sẽ làm được trong bài kiểm tra tiếp sau trong khi kỳ thực họ chỉ thông thuộc mặt chữ nhờ đọc đi đọc lại văn bản.

 

TÁC NHÂN XÃ HỘI

Những ký ức của chúng ta cũng lệ thuộc vào những tác nhân xã hội (social influence) và có xu hướng tương thích với ký ức của những người xung quanh. Nếu bạn gia nhập một nhóm cùng hồi tưởng lại những trải nghiệm trong quá khứ và một ai đó trong nhóm thêm vào một chi tiết không đúng về câu chuyện, khả năng cao là bạn sẽ sáp nhập tình tiết này vào trong ký ức của chính mình rồi nhớ về nó như một phần của trải nghiệm. 

Quá trình này được gọi là sự thích ứng của trí nhớ (memory conformity) hay ảnh hưởng lây truyền của xã hội lên trí nhớ (social contagion of memory): sai lầm của người này có thể “lây lan” sang trí nhớ của người khác. Tất nhiên, những tác động có tính tập thể này không hẳn luôn tiêu cực. Nếu một ai đó nhắc lại những tình tiết trong một ký ức chung mà bạn có phần còn mơ hồ, ký ức của bạn sẽ được cập nhật và tạo nên một bản ghi chính xác hơn về sự kiện đó trong quá khứ.

Mô hình theo dõi ảnh hưởng của những tác nhân xã hội bao hàm một giả định, theo đó con người vẫn cho rằng những cá nhân khác cùng chia sẻ niềm tin chung về một vấn đề nào đó với họ. 

Hiện tượng này được biết đến với cái tên hiệu ứng đồng thuận giả hay hiệu ứng ước đoán sai (false consensus effect). 

Nói chung, chúng ta thường không nhận thức được rằng mỗi cá nhân nắm bắt thế giới và cắt nghĩa các hiện tượng theo một góc nhìn độc đáo riêng biệt, không ai giống ai. Thử nhớ lại xem gần đây bạn than phiền với một người bạn về tình hình thời sự và bạn đã ngạc nhiên đến mức nào khi khám phá ra anh ấy có một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về mọi vấn đề mà bạn vẫn nghĩ rằng hiển nhiên là đúng: từ vấn để thay đổi khí hậu, kiểm soát vũ khí, đến kỹ thuật dùng thủy lực để giải phóng dâu để chỉ mang tính địa phương như liệu có nên thông hay có thể là những văn qua việc ban hành trái phiếu để gây quỹ xây dựng trường học hay phản đối việc xây dựng một siêu thị ở vùng lân cận.

Sự tự tin vào trí nhớ của bản thân chưa phải là một dấu hiệu đáng tin cậy để xác thực ký ức đó.

Chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào một ký ức sống động đến mức tưởng như mình có thể sao chép đến từng chi tiết của sự kiện và chúng ta vẫn chưa nhận thức được rằng thực ra mình đã sai lầm. 

Những bi kịch mang tầm cỡ quốc gia, như vụ ám sát Tổng thống John Kennedy hay những sự kiện xoay quanh ngày 11 tháng 9, đã tạo ra điều mà các nhà tâm lý học vẫn gọi là những ký ức đèn nháy ("flashbulb" memories). 

Cái tên ấy được gắn cho những hình ảnh sống động mà chúng ta còn lưu giữ: khi chúng ta tiếp nhận tin tức đó thì chúng ta đang ở đâu, làm thế nào tin tức đó đến được với chúng ta, chúng ta cảm thấy ra sao và chúng ta đã có hành động gì. 

Mọi người vẫn nghĩ những ký ức đó là không thể xóa bỏ, chúng đã ăn sâu vào trí óc của chúng ta. Đúng là chúng ta sẽ ghi nhớ một cách sâu sắc những chi tiết cơ bản rõ ràng về những thảm họa như thế, khi chúng được tường thuật kỹ càng trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng ký ức của bạn về những tình huống chính cá nhân bạn đã trải qua xoay quanh thời điểm xảy ra sự kiện đó thì chưa hẳn là chính xác. 

Có vô số công trình nghiên cứu về hiện tượng này, trong số đó có cuộc khảo sát về ký ức của 1.500 người Mỹ về cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9. 

Trong nghiên cứu này, người ta tiến hành khảo sát ký ức của những người tham gia nhiều lần vào các thời điểm: lần thứ nhất là một tuần sau vụ tấn công, lần thứ hai là một năm sau, lần tiếp nữa là ba năm sau và mười năm sau. 

Trong số những ký ức cá nhân của những người được khảo sát liên quan tới ngày 11 tháng 9 thì những hồi ức cảm động nhất diễn ra vào thời điểm họ biết tới vụ tấn công cũng là những gì họ tự tin khẳng định nhất, oái oăm thay lại chính là những hồi ức bị thay đổi nhiều nhất trong các cuộc khảo sát sau hơn một năm.

- Theo cuốn sách “Bí quyết học đâu nhớ đó” 

Tags: