Cuốn “Science and the Indian Tradition: When Einstein Met Tagore” thuật lại cuộc gặp gỡ mang tính lịch sử này trong bối cảnh cuộc phục hưng trí thức tại Ấn Độ đầu thế kỷ XX, nơi các truyền thống tư tưởng Ấn Độ hòa quyện, một cách đầy tò mò với học thuyết khoa học thế tục của phương Tây.
Đoạn trích dưới đây, từ một trong những cuộc trò chuyện giữa Einstein và Tagore, uyển chuyển đan xen các khái niệm đã được bàn luận trước đó như khoa học, cái đẹp, ý thức và triết học, tạo nên một suy tưởng sâu sắc về những câu hỏi nền tảng nhất của sự tồn tại con người.
EINSTEIN: Ông có tin vào Thượng đế như một thực thể tách rời khỏi thế giới không?
TAGORE: Không tách rời. Nhân cách vô hạn của Con Người bao trùm vũ trụ. Không có gì tồn tại mà không thể được bao hàm trong nhân cách con người, và điều đó chứng tỏ rằng Chân lý của vũ trụ chính là Chân lý của con người.
Tôi xin dùng một thực tế khoa học để minh họa: vật chất được cấu tạo từ proton và electron, giữa chúng là những khoảng trống; vậy mà vật chất vẫn có vẻ rắn chắc. Tương tự, nhân loại được tạo nên từ các cá nhân, nhưng chính mạng lưới quan hệ giữa con người với con người tạo nên sự thống nhất sống động cho thế giới của chúng ta. Toàn bộ vũ trụ cũng được kết nối với chúng ta theo cách tương tự - đó là một vũ trụ mang tính nhân loại. Tôi đã theo đuổi tư tưởng này thông qua nghệ thuật, văn chương và ý thức tôn giáo của con người.
EINSTEIN: Có hai quan niệm khác nhau về bản chất của vũ trụ: (1) Thế giới là một chỉnh thể phụ thuộc vào con người. (2) Thế giới là một thực tại tồn tại độc lập với yếu tố con người.
TAGORE: Khi vũ trụ của chúng ta hài hòa với Con Người – cái vĩnh cửu – chúng ta nhận biết nó như Chân lý, và cảm nhận nó như Cái đẹp.
EINSTEIN: Đó là một quan niệm thuần túy mang tính con người về vũ trụ.
TAGORE: Không thể có quan niệm nào khác. Thế giới này là thế giới của con người - và cái nhìn khoa học về nó cũng là cái nhìn của con người làm khoa học. Có một chuẩn mực của lý trí và cảm thụ khiến thế giới này trở thành Chân lý, đó là chuẩn mực của Con Người Vĩnh Cửu, kẻ trải nghiệm thông qua chính những trải nghiệm của chúng ta.
EINSTEIN: Đó là sự nhận thức về thực thể con người.
TAGORE: Vâng, một thực thể vĩnh cửu. Chúng ta phải nhận ra nó thông qua cảm xúc và hành động của mình. Chúng ta nhận ra Con Người Tối Thượng, vượt khỏi mọi giới hạn cá nhân, thông qua chính những giới hạn của mình.
Khoa học quan tâm đến những gì không bị giới hạn bởi cá nhân; đó là thế giới phi cá nhân của các Chân lý. Tôn giáo nhận ra những Chân lý này và gắn chúng với những nhu cầu sâu thẳm của con người; từ đó, ý thức cá nhân của chúng ta về Chân lý đạt được ý nghĩa phổ quát. Tôn giáo gán giá trị cho Chân lý, và chúng ta biết Chân lý ấy là “thiện” thông qua sự hài hòa của chính mình với nó.
EINSTEIN: Vậy thì Chân lý, hay Cái đẹp, không tồn tại độc lập với con người sao?
TAGORE: Không.
EINSTEIN: Nếu không còn con người, bức tượng Apollo Belvedere sẽ không còn đẹp nữa?
TAGORE: Không.
EINSTEIN: Tôi đồng ý với quan điểm đó về Cái đẹp, nhưng không đồng ý khi áp dụng nó cho Chân lý.
TAGORE: Vì sao không? Chân lý được nhận thức thông qua con người.
EINSTEIN: Tôi không thể chứng minh quan niệm của mình là đúng, nhưng đó chính là “tôn giáo” của tôi.
TAGORE: Cái đẹp nằm trong lý tưởng của sự hài hòa hoàn hảo nơi Thực thể Phổ quát; Chân lý là sự thấu hiểu hoàn hảo của Tâm trí Phổ quát.
Chúng ta, với tư cách cá nhân, tiến gần đến nó qua những sai lầm, vấp váp, qua những kinh nghiệm tích lũy và ý thức được khai sáng - nếu không như vậy, làm sao chúng ta có thể biết Chân lý?
EINSTEIN: Tôi không thể chứng minh một cách khoa học rằng Chân lý phải tồn tại độc lập với nhân loại, nhưng tôi tin điều đó một cách vững chắc. Tôi tin, chẳng hạn, rằng định lý Pythagoras trong hình học nói lên một điều đúng, gần đúng, bất chấp sự tồn tại của con người. Và nếu có một thực tại độc lập với con người, thì cũng có một Chân lý tương ứng với thực tại ấy; việc phủ nhận cái này sẽ kéo theo phủ nhận cái kia.
TAGORE: Chân lý, vốn là một với Thực thể Phổ quát, về bản chất phải mang tính con người; nếu không, bất cứ điều gì chúng ta nhận thức là đúng cũng không thể được gọi là Chân lý - ít nhất là thứ Chân lý khoa học, chỉ có thể đạt tới bằng logic, tức là bằng một cơ quan tư duy mang tính con người.
Theo triết học Ấn Độ, tồn tại Brahman, Chân lý tuyệt đối, không thể được nhận thức bằng cái trí cá nhân hay mô tả bằng ngôn từ, mà chỉ có thể được chứng ngộ bằng cách hòa tan hoàn toàn cái tôi cá nhân vào vô hạn. Nhưng Chân lý như vậy không thuộc về khoa học.
Chân lý mà chúng ta đang bàn tới là một hiển lộ, tức là điều xuất hiện như đúng đối với tâm trí con người, vì thế nó mang tính con người, và có thể được gọi là maya hay ảo ảnh.
EINSTEIN: Vậy theo quan niệm của ông, có lẽ là quan niệm Ấn Độ, đó không phải là ảo ảnh của cá nhân, mà là của toàn thể nhân loại?
TAGORE: Loài người cũng thuộc về một chỉnh thể, về nhân loại. Do đó, toàn bộ tâm trí nhân loại nhận thức Chân lý; tâm trí Ấn Độ và tâm trí châu Âu gặp nhau trong một sự chứng ngộ chung.
EINSTEIN: Từ “loài” trong tiếng Đức, thực ra, còn bao gồm cả khỉ và ếch.
TAGORE: Trong khoa học, chúng ta rèn luyện bằng cách loại bỏ những giới hạn cá nhân của trí óc mình, để đạt tới sự thấu hiểu Chân lý nằm trong tâm trí của Con Người Phổ Quát.
EINSTEIN: Vấn đề bắt đầu ở chỗ: liệu Chân lý có tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta hay không.
TAGORE: Điều chúng ta gọi là Chân lý nằm trong sự hài hòa hợp lý giữa mặt chủ quan và khách quan của thực tại, và cả hai đều thuộc về Con Người Siêu Cá Nhân.
EINSTEIN: Ngay trong đời sống hằng ngày, chúng ta cũng buộc phải gán cho các đồ vật một thực tại độc lập với con người. Chúng ta làm vậy để kết nối các trải nghiệm giác quan một cách hợp lý. Ví dụ, nếu không có ai trong căn nhà này, cái bàn vẫn ở đó.
TAGORE: Vâng, nó tồn tại ngoài tâm trí cá nhân, nhưng không tồn tại ngoài tâm trí phổ quát. Cái bàn mà tôi tri giác được là thứ có thể được tri giác bởi cùng một loại ý thức mà tôi đang có.
EINSTEIN: Nếu không có ai trong nhà, cái bàn vẫn tồn tại nhưng theo quan điểm của ông, điều đó đã là không hợp lệ, bởi chúng ta không thể giải thích được ý nghĩa của việc cái bàn tồn tại độc lập với chúng ta.
Quan điểm tự nhiên của chúng ta về sự tồn tại của Chân lý tách rời khỏi nhân loại không thể được giải thích hay chứng minh, nhưng đó là một niềm tin mà không ai có thể thiếu, kể cả con người nguyên thủy. Chúng ta gán cho Chân lý một tính khách quan siêu nhân loại; nó là điều không thể thiếu đối với chúng ta - một thực tại độc lập với sự tồn tại, trải nghiệm và tâm trí của chúng ta, dù chúng ta không thể nói rõ điều đó có nghĩa là gì.
TAGORE: Khoa học đã chứng minh rằng cái bàn như một vật thể rắn chắc chỉ là một hiển lộ; do đó, cái mà tâm trí con người tri giác như “cái bàn” sẽ không tồn tại nếu tâm trí ấy không còn. Đồng thời, cũng phải thừa nhận rằng thực tại vật lý tối hậu - chỉ là một tập hợp các trung tâm lực điện xoay chuyển - cũng thuộc về tâm trí con người.
Trong sự lĩnh hội Chân lý luôn tồn tại một xung đột vĩnh cửu giữa tâm trí nhân loại phổ quát và tâm trí ấy khi bị giới hạn trong cá nhân. Quá trình hòa giải không ngừng này diễn ra trong khoa học, triết học và đạo đức của chúng ta.
Dù thế nào đi nữa, nếu tồn tại một Chân lý hoàn toàn không liên hệ gì đến nhân loại, thì đối với chúng ta, nó hoàn toàn không tồn tại.
Không khó để hình dung một loại tâm trí mà chuỗi sự kiện không diễn ra trong không gian mà chỉ trong thời gian, giống như chuỗi nốt nhạc trong âm nhạc. Với tâm trí ấy, thực tại giống như thực tại âm nhạc, nơi hình học Pythagoras không có ý nghĩa. Thực tại của giấy hoàn toàn khác với thực tại của văn chương. Với tâm trí của con bướm đêm ăn giấy, văn chương hoàn toàn không tồn tại; nhưng với tâm trí con người, văn chương mang giá trị Chân lý cao hơn cả tờ giấy. Tương tự, nếu tồn tại một Chân lý không có quan hệ cảm tính hay lý tính nào với tâm trí con người, thì chừng nào chúng ta còn là con người, Chân lý ấy vẫn chỉ là hư vô.
EINSTEIN: Vậy thì tôi còn mang tính tôn giáo hơn cả ông!
TAGORE: Tôn giáo của tôi nằm ở sự hòa giải giữa Con Người Siêu Cá Nhân, tinh thần nhân loại phổ quát, với chính bản thể cá nhân của tôi.
- Theo: The Margilian