Tuổi thơ đi ở mướn và những ngày đầu hoạt động cách mạng
Từ nhỏ, do cảnh nhà túng thiếu, chú bé Chín Hòa (tên thuở nhỏ của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt) được ba má đem gửi cho chú Hai Chi - người chú tuy đơn chiếc và vụng về nhưng lại chịu thương chịu khó. Năm lên 5, lên 6, Chín Hòa đã có ý thức làm cách nào để giúp chú Hai Chi của mình bằng những việc nhỏ như mót lúa, coi ghe,... Chính trong những ngày xa nhà đi mót lúa ấy, được ngắm nhìn những thảm lúa vàng, cậu bé đã thấy quê hương mình thật đẹp, thật mênh mông.
Khi lớn hơn, trong độ 13-14 tuổi, Chín Hòa muốn làm "cái gì đó như người lớn đang làm". Vậy là cậu thiếu niên bắt đầu đi cắt mướn, rồi tập cày, bừa, phát bờ... rồi dần thông thạo các việc đồng áng. Theo lời kể của má, tuy làm thuê ở mướn cơ cực mà lúc nào gặp bà, Chín Hòa cũng tươi cười.
Và bước ngoặt đầu tiên trong đời Chín Hòa xảy đến khi má cậu ra đi sau khi bị bệnh nặng. Trong hôm cúng tuần má, Hòa gặp được hai người anh con cô, con cậu. Sau mỗi lần gặp họ, hòa luôn có những tình cảm tốt đẹp, ấn tượng sâu đậm. Qua giọng nói của họ, Hòa nhận thấy trong lòng họ có sự chân thành, tình cảm yêu thương và nỗi đau. Một dân tộc đáng được hưởng âm nó, sung sướng thì lại phải cúi đầu chịu khổ nhục.
"Rõ ràng là Chín Hòa chưa có cái nhìn như các anh, nhưng cuộc đời đi ở mướn từ sớm đã cho Chín Hòa hiểu được nhiều chuyện xấu tốt ở đời và thân phận của những người nghèo, nhữn tá điền. Điều chung nahats là ai cũng khao khát, ai cũng mơ ước có được một miếng đất để ở và 5-10 công ruộng. Khát vọng bình thường, nhưng chỉ là khát vọng đời nọ nối đời kia. Không ai nghĩ ra được cách nào để khát vọng ấy trở thành sự thật. Ai cung coi sự bế tắc ấy là số phận, từ bà con láng giềng cho tới chú Hai Chi rồi các anh chị mình. Chín Hòa cảm thấy như cuộc đời thực và khát vọng là cái vòng luẩn quẩn buồn! Nhưng bây giờ, nghe các anh nói, Chín Hòa cảm thấy như mình sáng ra. Càng nghe càng vỡ ra nhiều điều, những điều mà lâu nay như lẩn trong đất, vùi trong cát. Anh nghe chăm chú, mải me. Nghe tới đâu Hòa hiểu tới đó. Các anh nói những điều bình dị, thiết thực và cụ thể. Sau cùng, các anh nói:
- Giờ muốn thay đổi phải hợp nhau lại, đồng lòng, giành lại. Người ta nói đó là cách mạng."
Từ ấy, con đường hoạt động cách mạng của Chín Hòa bắt đã được hình thành.
Với Chín Hòa, thời điểm bước ngoặt đầu tiên trên con đường làm cách mạng là khi anh gặp được các anh chị Lê Quang Phong (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Vĩnh Long, Bí thư Quận ủy Vũng Liêm), chị Tư Hồng (Tên thật là Hà Thị Lan - Phó Bí thư Quận ủy Vũng Liêm), anh Đỗ Tấn Nên, anh Tạ Uyên - Những người mà anh nhận xét là “chưa một lần nào thấy họ nhậu nhẹt, chửi thề, nói tục. Mỗi khi có dịp, họ hay nói về đất nước mình, dân mình.”
Những năm 1936 - 1938, phong trào cách mạng ở Vĩnh Long sôi nổi nhất. Dân chúng sẵn sàng xuống đường bất cứ lúc nào Đảng kêu gọi. Đó cũng là năm Chín Hòa vừa đi ở xong cho Mười Phải và bước vào con đường hoạt động cách mạng thực sự. Và tháng đầu mùa khô năm 1939, trước lá cờ Đảng bằng giấy nhuộm phẩm đỏ và chiếc búa liềm bằng giấy bản nhuộm nghệ, Phan Văn Hòa giơ tay xin thề suốt đời trung thành với Đảng và hứa suốt đời cống hiến cho dân, cho nước.
“Khi nào dân quay mặt đi thật, dân quay lưng với cách mạng thật thì lúc đó cách mạng coi như hết thời!”
Ông từng đi vào cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bừng bừng khí thế. Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa thất bại, bị dìm trong bể m.áu. Cùng với những người lính xung trận còn lại, ông đứng dậy, tham gia cuộc Cách Mạng Tháng tám năm 1945…
Và cứ như vậy, ông tiến lên, cho tới ngày toàn thắng.
Sài Gòn trong buổi trưa ngày 30/4/1975, Võ Văn Kiệt bồi hồi khôn tả. Lòng cứ reo vui như có hàng trăm bản hùng ca cất lên, đan xen trong không khí của ngày hội sau 113 năm mất nước kể từ Hòa ước Nhâm Tuất năm 1892.
37 năm trước, một chàng trai trẻ với tên cha mẹ đặt là Phan Văn Hòa đã giương lá cờ ba sắc, đi đầu trong đoàn quân biểu tình lên quận Vũng Liêm cùng với khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”. Chàng trai trẻ đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, đầu ngẩng cao, dáng đi hiên ngang trên lộ Đá, lòng đầy kiêu hãnh. Giờ đây, chàng trai đó trở thành Võ Văn Kiệt - một trong những nhà lãnh đạo của Thành phố, của Trung ương. Ông đi sau lá cờ giải phóng và cờ đỏ sao vàng cỡ lớn, quân phục chỉnh tề. Ông đi hiên ngang trong tiếng quân hành dồn dập của bài ca Giải phóng miền Nam của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.
Những năm tháng “xé rào”, đánh cược sinh mạng chính trị cho công cuộc “đổi mới”
“Mọi tệ nạn bắt đầu từ thiếu điện, thiếu nước. Nhân dân càng khó khăn, lòng tin vào cách mạng càng giảm sút.”
Lịch sử chiến tranh hiện đại hiếm có một cuộc chiến tranh nào kéo dài như cuộc chiến của dân tộc Việt Nam và cũng hiếm thấy chiến thắng nào trọn vẹn như chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh. “Hòn ngọc Viễn Đông” vẫn giữ nguyên dáng vẻ của nó, tất cả gần như còn nguyên vẹn. Những xa cảng và đại lộ, những công sở và nhà máy, xí nghiệp, những nhà máy nhiệt điện và thủy điện, sân bay và bến tàu, bến xe, những ngôi nhà cao tầng và cả những khu nhà ổ chuột vẫn như lúc đầu, hoàn toàn không có cảnh tan hoang, đổ nát như Tokyo và Bình Nhưỡng.
Nhưng rồi, cả Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam, Thành ủy và Ủy ban quân quản đều nhận ra rằng, dù hòa bình đã lập lại song vẫn rất mong manh! Một xã hội thời chiến theo kiểu Mỹ, vẻ hào nhoáng của một trung tâm đô thị ăn theo chiến tranh đã chấm dứt, sự hụt hẫng trong đời sống nhân dân miền Nam Việt Nam đang là một thực tế.

Chính vào thời kỳ cấm chợ ngăn sông chưa từng có trong lịch sử, Võ Văn Kiệt đã làm những việc “xé rào” vô cùng táo bạo nhưng ý nghĩa: Khuyến khích các hộ nông dân sản xuất hàng hóa; củng cố các hợp tác xã nông nghiệp; cải tiến việc giao chỉ tiêu cho xí nghiệp quốc doanh; khuyến khích kinh tế tư nhân; bảo lãnh cho các trí thức từng cộng tác với chế độ cũ; thực hiện lưu thông lương thực, thực phẩm thông suốt trong cả nước; cải tổ hệ thống ngân hàng; đặc biệt là thủy điện Trị An và công trình Đường dây 500kV Bắc - Nam (được hoàn thành trong vòng 2 năm.)
Những chuyên gia ngành điện luôn nhắc tới Võ Văn Kiệt như một chuyên gia đầu ngành, dám tin anh em tới mức ngay từ đầu công trình thủy điện Trị An đã giao trách nhiệm cho họ lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật chứ không phải như thời thủy điện Hòa Bình và Thác Bà. Và cũng chính ông đã thuyết phục được những nhà lãnh đạo Liên Xô chấp nhận đứng ngoài với vai trò trợ giúp.

Bình tĩnh và tự tin, đoàn quân từ Trị An lại đi vào Hàm Thuận, Đa Mi rồi đường dây 500kV Bắc - Nam - Thống nhất hệ thống điện ba miền và mở ra một bước ngoặt quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng quốc gia.
Những bước đột phá trong cuộc đời chính trị
“Đường lối đổi mới của chúng tôi là khép lại quá khứ. Khoét sâu hận thù thì hận thù sẽ không bao giờ kết thúc.”
Võ Văn Kiệt đi từ Bắc Âu đến Tây Âu, từ EU đến ASEAN. Và ở đâu, người ta cũng thấy một Việt Nam của thời đổi mới, thời mở cửa, thời muốn làm bạn với tất cả các nước trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Ông chủ động gửi thư cho Tổng thống G. Bush (cha), cho Tổng thống B. Clinton. Được sự ủng hộ của Tổng Bí thư Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt đã mở bước đột phá trên nhiều bình diện, trên nhiều mặt trận. Gần như cả thế giới, ngay đến những nước đồng minh thân cận của Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Australia… đều ủng hộ Việt Nam và tạo áp lực để thúc đẩy việc bình thường hóa quan hệ của Mỹ đối với Việt Nam.
Và ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Clinton đã tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Hơn nửa tháng sau (28/7/1995), tại thủ đô Brunei, đã diễn ra lễ kếp nạp Việt Nam làm thành viên chính thức, đầy đủ của ASEAN.

Với cương vị của mình, Võ Văn Kiệt công khai học cách làm ăn với các nước dân tộc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa qua nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu từng học và thành đạt ở Nhật, Pháp, Mỹ. Chính sách đối ngoại mở đã cho ông một cái nhìn tổng thể về đất nước mình. Ông nói thẳng: Trong cuộc đua chung, chúng ta phải tạo điều kiện và nắm bắt những thời điểm để bứt phá, không thể chạy đều. Nếu không thì cầm chắc phần tụt hậu.

Từ người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi, đến nhà lãnh đạo dám “xé rào” trong thời bao cấp, và là người mở đường cho đổi mới, hội nhập quốc tế, cố thủ tướng Võ Văn Kiệt luôn chọn hành động táo bạo vì lợi ích lâu dài của đất nước. Với lối viết giàu tư liệu, kết hợp giữa phân tích và kể chuyện, cuốn sách “Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo” không chỉ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về một giai đoạn quan trọng của đất nước qua chân dung cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, mà còn gợi mở nhiều suy ngẫm có giá trị cho công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay.
- Trạm Đọc