Điều mà bạn có lẽ sẽ không đưa vào kế hoạch là… một mảnh đất băng vĩnh cửu đang tan chảy ở Bắc Cực.
Khi còn là một nhà khoa học môi trường trẻ, David Epstein dành ngày tháng của mình cúi người bên những ô đất băng vĩnh cửu đang ấm lên, đo lượng carbon thoát ra từ lớp đất tan chảy. Khi tôi hỏi ông về giai đoạn đó, Epstein cười: “Lúc ấy tôi đang trên đường trở thành một nhà khoa học xoàng xoàng.”
Không có gì trong khung cảnh đó trông giống một con đường thẳng đến thành công trong nghề báo. Thế nhưng chỉ vài năm sau, Epstein được tuyển vào Sports Illustrated, nhanh chóng thăng tiến để trở thành cây bút cao cấp trẻ nhất của tạp chí. Từ đó, ông bắt đầu theo đuổi những “trường hợp ngoại biên” của hiệu suất con người - nguồn cảm hứng cho cuốn sách bestseller đầu tiên The Sports Gene.
Nếu bạn thích những câu chuyện khởi nghiệp gọn gàng, đó chính là cái kết: một sinh viên STEM tìm ra thiên chức thật sự, trở thành phóng viên ngôi sao và tác giả bán chạy. Hết phim.
Chúng ta thích cách đọc ấy vì nó cho phép ta giữ nguyên những huyền thoại quen thuộc về thành công. Ta nghĩ rằng Epstein hẳn đã lãng phí tài năng nếu không kịp tìm ra con đường đúng trước khi “hết giờ”.
Nhưng với Epstein, cách kể đó hoàn toàn bỏ lỡ bản chất vấn đề.
Theo ông, chính những năm tháng làm việc với băng vĩnh cửu đã mang lại cho ông một lợi thế không thể nào lên kế hoạch trước. Những kỹ năng từng “chìm vào nền” trong khoa học môi trường lại trở thành lợi thế cạnh tranh trong phòng tin tức.
“Bạn có thể lấy một thứ rất bình thường ở môi trường này, và mang nó sang môi trường khác, nơi nó được xem là sáng tạo.”
Điều khiến Epstein khác biệt chính là góc nhìn của một kẻ lạc loài. Ông nhận ra rằng việc kết nối các lĩnh vực với nhau có thể dẫn đến những lời giải mà các chuyên gia đơn ngành không nhìn thấy - ý tưởng trung tâm của cuốn bestseller thứ hai “Range: Hiểu sâu, biết rộng kiểu gì cũng thắng”.
“Range lần theo con đường hình thành của những cá nhân xuất sắc, từ hệ thống huấn luyện Olympic, học viện quân sự đến các phòng thí nghiệm ở Thung lũng Silicon và lật đổ những huyền thoại về sự tinh thông, bằng cách chỉ ra nơi nó thường xuất hiện nhất: những không gian cho phép sự tò mò rộng mở tự do lang thang.
Nếu sự tinh thông chỉ là vấn đề kỷ luật, thì nó hẳn đã rất dễ dạy. Thay vào đó, Epstein hướng ánh nhìn của chúng ta ra bên ngoài, yêu cầu ta nhìn sự tinh thông theo cách mà có lẽ chỉ một nhà khoa học môi trường mới nghĩ đến: như một hệ sinh thái.
Khi những người dẫn đầu bị bỏ lại phía sau
Trực giác này là mạch ngầm chi phối các hệ thống phát triển tài năng của chúng ta, vốn gần như chỉ được thiết kế cho việc phát hiện sớm – tuyển chọn – chuyên môn hóa. Ta đã thể chế hóa logic rằng: càng sớm nhận diện được nhóm tinh hoa, cơ hội tạo ra người xuất sắc càng cao. Tài năng xuất hiện sớm, bám rễ, và không bao giờ buông ra.
Vấn đề chỉ có một: logic đó sai.
Khi các nhà nghiên cứu tổng hợp dữ liệu từ khoảng 35.000 cá nhân ưu tú, họ phát hiện rằng những người dẫn đầu sớm thường bị vượt qua. Trong phân tích mới này, dữ liệu về vận động viên Olympic, chủ nhân Nobel và nhạc sĩ đẳng cấp thế giới cho thấy: rất nhiều người xuất sắc nhất ban đầu lại tụt hậu so với bạn bè đồng trang lứa.
Nếu muốn tước đoạn cơ hội một đứa trẻ trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình, có lẽ không gì hiệu quả hơn việc biến chúng thành thần đồng.
Epstein đã cảnh báo điều này từ nhiều năm trước trong “Range”. Một trong những nguồn tư liệu của ông là Chelsea Warr, chiến lược gia hiệu suất cao từng làm việc tại UK Sport. Bà phân biệt hai kiểu vận động viên:
Hệ thống tuyển chọn thường vớt lấy nhóm đầu và loại bỏ phần còn lại. Dù được gọi là “đánh giá tiềm năng”, việc tuyển sớm thực chất là một sự can thiệp, dồn tài nguyên cho nhóm dẫn đầu và khiến những người còn lại gần như không còn cơ hội đuổi kịp.
“Nếu ta bất lợi hóa những người khác đến mức loại họ khỏi hệ thống, thì họ sẽ không bao giờ có cơ hội trở thành những ‘người nướng chậm’.” - Epstein nói.
Và vậy mà một số người vẫn làm được.
Nhìn lại dữ liệu, Warr phát hiện phần lớn các vận động viên đoạt huy chương không hề nổi bật ở tuổi 12, dù hệ thống đã được tinh chỉnh tối đa để ưu ái những người có vẻ triển vọng sớm.
Điều này dẫn bà đến một thay đổi chính sách quan trọng: ít loại bỏ hơn, nhiều lối vào hơn, và cho phép những người phát triển muộn gia nhập hoặc quay lại hệ thống. Kết quả: tiềm năng muộn xuất hiện nhiều hơn trên bục huy chương.
Người “vọt sớm” thành công nhờ hệ thống; người “nướng chậm” thành công bất chấp hệ thống và với tỷ lệ cao hơn đáng kể.
Mô hình này không chỉ xuất hiện trong thể thao.
Những người đoạt Nobel thường có khởi đầu kém hơn đồng nghiệp: công bố ít hơn, được trao biên chế muộn hơn. Họ lang thang giữa các lĩnh vực, hợp tác rộng rãi, và trở thành những người giải quyết vấn đề sắc bén hơn. Ngắn hạn, họ bị phạt vì điều đó; dài hạn, chính xu hướng ấy lại đem về phần thưởng nếu họ sống sót qua được hệ thống.
Chúng ta hiểu sai về thời gian
Các hệ thống tối ưu cho thành tích sớm, theo định nghĩa, là những cỗ máy đè nén mọi thứ cần thời gian dài để chín muồi. Chúng làm nản lòng những lộ trình phát triển quanh co, lộn xộn… vốn lại là dấu hiệu đáng tin cậy nhất của sự xuất sắc trong tương lai.
Quy tắc 10.000 giờ là ví dụ điển hình.
Nó hứa hẹn rằng chỉ cần đủ kiên trì, sự tinh thông có thể được “kỹ thuật hóa”. Epstein đã bác bỏ điều này từ lâu trong The Sports Gene, và các bằng chứng phản bác ngày càng nhiều. Thế nhưng huyền thoại ấy vẫn tồn tại vì nó khớp hoàn hảo với nỗi ám ảnh của chúng ta về thời gian bị mất, thời gian bị lãng phí, và nỗi sợ không thể bắt kịp một lợi thế khởi đầu.
Nhưng đồng hồ không học thay ta. Ta mới là người học.
Vì sao trải nghiệm ngang lại chiến thắng
Nhận thức và vận động của con người tiến hóa trong một môi trường đầy bất định. Bộ não, đặc biệt là hồi hải mã, được thiết kế để xử lý điều đó: nó dựng lên nhiều phiên bản thực tại, kết nối quá khứ, hiện tại và khả năng tương lai, cho phép ta tái tổ hợp kinh nghiệm để đối phó với tình huống chưa từng gặp.
Chuyên môn hóa cực đoan làm ngắn mạch cơ chế này. Trong thuật ngữ học máy, nó dẫn đến overfitting: trở nên xuất sắc trong một bài toán quen thuộc, với công cụ quen thuộc, trong điều kiện quen thuộc - và đánh mất sự linh hoạt ở nơi khác.
Vấn đề là điều này không phải lúc nào cũng lộ ra bên ngoài. Các bác sĩ phẫu thuật tim siêu chuyên môn có ít biến chứng hơn - nghe có vẻ tốt, cho đến khi ta biết rằng họ cũng có xu hướng làm nhiều ca không cần thiết và kháng cự các phát hiện mới làm suy yếu kỹ thuật mà họ chuyên. Như Epstein nói: “Bạn sẽ không có biến chứng với một ca phẫu thuật mà bạn không cần làm.”
Hiện tượng này gọi là sự cố chấp nhận thức: chuyên môn trở thành chiếc lồng.
Khi người “nướng chậm” vượt lên
Giải pháp của nhà nghiên cứu Arturo Casadevall nghe có vẻ dị giáo: loại 20% kém nhất, rồi bốc thăm phần còn lại.
Thực tế, New Zealand đã làm vậy. Kết quả ban đầu cho thấy các dự án được tài trợ không kém hiệu quả, đồng thời đa dạng hơn về chủ đề và con người.
Kết luận
Những hệ thống đòi hỏi câu trả lời ngay lập tức, tiến bộ tuyến tính và bằng chứng hữu dụng liên tục sẽ luôn tạo ra một kết quả: con người ngừng khám phá.
Thước đo ngắn hạn không chỉ là dự báo tệ cho thành công dài hạn, mà còn trực tiếp thù địch với nó. Những hệ thống tạo ra các ngôi sao là những hệ thống cho phép quá trình học hỏi tự nhiên - chậm, quanh co và đầy thử nghiệm - được diễn ra.
- Theo: Big Think